Tổng quan nghiên cứu

Bệnh lở mồm long móng là bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm hàng đầu ở động vật móng guốc chẵn, được Tổ chức Thú y Thế giới xếp ở vị trí số 1 trong Bảng A các dịch bệnh động vật bắt buộc phải khai báo. Tại Việt Nam, mầm bệnh đã lưu hành hơn 100 năm và thường xuyên đe dọa nền kinh tế nông nghiệp. Tỉnh Quảng Ninh là địa bàn chăn nuôi trọng điểm phía Bắc với tổng đàn gia súc lớn, duy trì từ 66.395 đến 72.481 con trâu bò và từ 228.841 đến 430.982 con lợn. Với vị trí đầu mối giao thương và trung chuyển hàng hóa phức tạp giáp biên giới Trung Quốc, nguy cơ xâm nhập và bùng phát dịch bệnh qua đường vận chuyển động vật bất hợp pháp là rất lớn. Luận văn tập trung giải quyết vấn đề kiểm soát dịch tễ học thực địa thông qua mục tiêu đánh giá toàn diện diễn biến dịch lở mồm long móng trên đàn trâu, bò, lợn tại 14 đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Quảng Ninh từ tháng 1/2018 đến tháng 6/2020. Đồng thời, nghiên cứu xác định type virus lưu hành, khảo sát sự tồn tại của kháng thể và đánh giá hiệu lực bảo hộ thực tế của vắc-xin vô hoạt Aftopor. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng, tạo tiền đề khoa học giúp ngành thú y địa phương nâng tỷ lệ tiêm phòng đạt độ bao phủ trên 80% tổng đàn, khống chế tỷ lệ tử vong lên tới 90% ở gia súc non và thiết lập vành đai an toàn sinh học vững chắc cho ngành chăn nuôi toàn tỉnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết vi sinh vật học và miễn dịch học thú y chuyên sâu về virus lở mồm long móng thuộc chi Aphthovirus, họ Picornaviridae. Hạt virus có kích thước siêu nhỏ khoảng 20-28 nm, cấu trúc gồm chuỗi đơn ARN dương được bao bọc bởi vỏ capsid tạo thành từ 60 capsome với 4 protein cấu trúc từ VP1 đến VP4. Trong đó, protein VP1 nằm ở bề mặt ngoài giữ vai trò then chốt trong tính sinh miễn dịch và kích thích sản sinh kháng thể trung hòa đặc hiệu. Khung phân loại dịch tễ xác định virus có 7 serotype gồm A, O, C, SAT 1, SAT 2, SAT 3, Asia 1 với hơn 60 phân type, đặc biệt không có hiện tượng miễn dịch chéo giữa các serotype. Mô hình truyền lây mô tả cơ chế phát tán mầm bệnh đa dạng qua khí dung đường hô hấp, tiếp xúc trực tiếp và chất thải cơ giới. Khái niệm thú mang trùng được nhấn mạnh khi trên 50% trâu bò phơi nhiễm có thể mang virus sống tại vùng hầu họng kéo dài trên 28 ngày. Bên cạnh đó, nguyên lý phân biệt động vật nhiễm tự nhiên và động vật tiêm phòng thông qua kháng thể kháng protein phi cấu trúc 3ABC được áp dụng làm thước đo đánh giá an toàn dịch tễ.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả phối hợp phương pháp dịch tễ học hồi cứu thu thập số liệu giai đoạn từ tháng 1/2018 đến tháng 6/2020 và phương pháp nghiên cứu cắt ngang thực nghiệm từ tháng 8/2019 đến tháng 8/2020. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ báo cáo định kỳ của Chi cục Chăn nuôi và Thú y cùng Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh trên địa bàn 14 huyện, thị xã, thành phố. Cỡ mẫu thực nghiệm được thu thập trực tiếp tại các hộ chăn nuôi trâu, bò, lợn nái trọng điểm. Phương pháp lấy mẫu huyết thanh sử dụng 3 ml máu tĩnh mạch cổ, tách chiết huyết thanh và bảo quản nghiêm ngặt ở nhiệt độ 4°C hoặc -30°C. Mẫu biểu mô mụn nước mới vỡ được bảo quản trong dung dịch đệm PBS 0,04 M kết hợp Glycerin tỷ lệ 1:1 có độ pH từ 7,2 đến 7,6 tại nhiệt độ 4-8°C. Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm bao gồm: kỹ thuật RT-PCR theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8400-1:2010 để giám sát và định type phân tử virus; kỹ thuật Liquid Phase Blocking ELISA với kít Pirbright ở nồng độ pha loãng 1/64 để định lượng hiệu giá kháng thể trung hòa; và kít ELISA FMD-3ABC bo-ov để đánh giá mức độ đáp ứng miễn dịch tại các mốc 30, 60, 90 và 120 ngày sau tiêm vắc-xin Aftopor. Toàn bộ số liệu được xử lý thống kê toán học bằng phần mềm Excel 2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, diễn biến dịch bệnh có sự khác biệt rõ rệt theo từng năm và loài cảm nhiễm. Năm 2018, đàn trâu bò 72.481 con hoàn toàn không có ca bệnh (0,00%), nhưng ghi nhận 105 con lợn mắc bệnh tại thị xã Đông Triều (tỷ lệ 0,024%) với 45 con chết và tiêu hủy (chiếm 42,86%). Năm 2019, dịch bùng phát rộng hơn: trâu bò ghi nhận 146 con mắc bệnh trên tổng đàn 69.700 con (tỷ lệ 0,19%, chết 2 con chiếm 1,37%); đàn lợn có 229 con mắc bệnh với 207 con chết và tiêu hủy, chiếm tỷ lệ tổn thất rất cao là 90,39%. Nửa đầu năm 2020, dịch chỉ phát sinh trên 159 trâu bò tại 4 xã thuộc huyện Ba Chẽ và Bình Liêu (chiếm 0,24% tổng đàn 66.395 con, chết 2 con chiếm 1,26%) và không ghi nhận ca bệnh nào trên đàn lợn.

Thứ hai, yếu tố mùa vụ ảnh hưởng mang tính quy luật rõ nét đối với đàn trâu bò. Trong tổng số 305 ca bệnh giai đoạn 2018-2020, mùa Thu chiếm tỷ lệ cao nhất với 47,87% (146 ca), mùa Xuân chiếm 30,82% (94 ca), mùa Đông chiếm 21,31% (65 ca) và mùa Hè hoàn toàn không ghi nhận ổ dịch nào (0,00%).

Thứ ba, xét nghiệm sinh học phân tử xác định 100% mẫu bệnh phẩm dương tính tại địa phương thuộc virus lở mồm long móng type O. Thử nghiệm thực địa với vắc-xin vô hoạt Aftopor type O cho thấy tỷ lệ bảo hộ đạt trên 85% ở thời điểm 30 đến 60 ngày và duy trì kháng thể phòng bệnh an toàn đến 120 ngày sau tiêm.

Thảo luận kết quả

Sự chênh lệch lớn về tỷ lệ chết và tiêu hủy giữa đàn lợn (42,86% - 90,39%) so với đàn trâu bò (1,26% - 1,37%) phản ánh đặc điểm bệnh lý đặc thù. Lợn mắc bệnh thường bị tổn thương mụn nước nặng ở vành móng dẫn đến long móng, mất khả năng vận động, kết hợp nguy cơ viêm cơ tim hoại tử cấp tính dạng tim vằn da hổ làm lợn chết nhanh. Đồng thời, cơ quan quản lý áp dụng biện pháp tiêu hủy triệt để đàn lợn bệnh nhằm ngăn chặn phát tán virus ra môi trường. Trái lại, trâu bò có sức đề kháng cao hơn, tỷ lệ khỏi bệnh nhiều nếu được chăm sóc và sát trùng vết loét kịp thời. Quy luật bùng phát vào mùa Thu và Đông - Xuân tương thích với đặc điểm khí hậu miền Bắc khi nhiệt độ giảm và độ ẩm tăng, tạo điều kiện thuận lợi cho virus tồn tại lâu dài ngoài môi trường tự nhiên, kết hợp hoạt động vận chuyển gia súc thương phẩm gia tăng mạnh vào dịp cuối năm. So với các giai đoạn nghiên cứu trước đây tại Quảng Ninh khi tỷ lệ trâu bò mắc bệnh dao động từ 1,69% đến 3,93%, kết quả hiện tại cho thấy tỷ lệ mắc bệnh đã giảm xuống dưới 0,25%. Dữ liệu có thể được mô hình hóa trực quan qua biểu đồ cột so sánh tỷ lệ mắc - tiêu hủy giữa các năm và biểu đồ đường thể hiện động lực giảm dần của kháng thể sau 120 ngày, chứng minh tính đúng đắn của việc sử dụng vắc-xin đơn giá type O.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm kiểm soát triệt để và tiến tới thanh toán bệnh lở mồm long móng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể:

  1. Chuẩn hóa kế hoạch tiêm phòng vắc-xin định kỳ: Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Quảng Ninh chủ trì phối hợp cùng UBND cấp xã tổ chức tiêm vắc-xin vô hoạt đơn giá type O (như Aftopor) đạt tỷ lệ bao phủ trên 85% tổng đàn trâu, bò và đàn lợn nái. Lịch tiêm cần ấn định 2 đợt/năm vào tháng 3-4 và tháng 9-10 nhằm tạo miễn dịch chủ động trước các đợt cao điểm dịch tễ mùa Thu và Đông - Xuân.
  2. Siết chặt kiểm dịch vận chuyển và kiểm soát biên giới: Đội kiểm dịch liên ngành và Bộ đội Biên phòng duy trì chốt chặn 24/7 tại các tuyến giao thông trọng yếu và khu vực biên giới huyện Bình Liêu, thành phố Móng Cái. Thực hiện kiểm tra 100% phương tiện vận chuyển gia súc liên tỉnh và xử lý tiêu hủy 100% động vật nhập lậu không rõ nguồn gốc.
  3. Thực hiện quy trình tiêu độc khử trùng chuồng trại: Các hộ chăn nuôi và trang trại định kỳ phun thuốc sát trùng có hoạt phổ rộng từ 1 đến 2 lần/tuần trong điều kiện bình thường và nâng lên 1 lần/ngày khi xuất hiện ca bệnh trong bán kính 3 km, kết hợp rải vôi bột khử khuẩn lối ra vào chuồng.
  4. Tăng cường giám sát dịch tễ và chẩn đoán phân tử: Trạm Thú y các huyện phối hợp Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương định kỳ lấy 30-50 mẫu huyết thanh/huyện mỗi 6 tháng để kiểm tra hiệu giá kháng thể bằng kỹ thuật LPB-ELISA, chủ động phát hiện sớm nguy cơ sụt giảm miễn dịch đàn và sự xuất hiện của các biến chủng virus mới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và Chi cục Thú y các tỉnh biên giới: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng để xây dựng bản đồ dịch tễ, hoạch định chính sách phòng dịch cấp tỉnh và tối ưu hóa phân bổ nguồn ngân sách mua sắm vắc-xin hàng năm cho 14 đơn vị hành chính.
  2. Chủ trang trại và các hộ chăn nuôi gia súc quy mô lớn: Cung cấp hướng dẫn kỹ thuật tiêm phòng vắc-xin Aftopor đúng quy chuẩn, phương pháp theo dõi triệu chứng lâm sàng sớm và các biện pháp cách ly gia súc bệnh nhằm giảm thiểu tối đa rủi ro thiệt hại kinh tế.
  3. Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Chăn nuôi - Thú y: Nguồn tài liệu học thuật giá trị về phương pháp điều tra dịch tễ học hồi cứu, quy trình chuẩn thực hiện xét nghiệm RT-PCR theo TCVN 8400-1:2010 và phương pháp định lượng kháng thể bằng LPB-ELISA.
  4. Các đơn vị sản xuất và nhập khẩu vắc-xin thú y: Bằng chứng về sự lưu hành chủ đạo của serotype O và thời gian duy trì kháng thể trên 120 ngày giúp định hướng nghiên cứu, phát triển và cung ứng các dòng vắc-xin đơn giá hoặc nhị giá phù hợp với đặc tính kháng nguyên thực tế tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Type virus lở mồm long móng nào đang lưu hành phổ biến nhất tại tỉnh Quảng Ninh? Kết quả xét nghiệm sinh học phân tử RT-PCR và phản ứng LPB-ELISA từ các mẫu bệnh phẩm thu thập tại các ổ dịch trên địa bàn tỉnh xác định 100% mẫu dương tính đều thuộc serotype O. Đây là cơ sở khoa học cốt lõi để ngành nông nghiệp địa phương lựa chọn vắc-xin đơn giá type O trong chương trình tiêm chủng mở rộng.

Vì sao tỷ lệ chết và tiêu hủy do lở mồm long móng ở lợn lại cao hơn rất nhiều so với trâu bò? Trong năm 2019, tỷ lệ chết và tiêu hủy ở lợn lên tới 90,39% trong khi ở trâu bò chỉ là 1,37%. Nguyên nhân do lợn nhiễm bệnh chịu tổn thương nặng ở chân làm móng bị bong tróc hoàn toàn, lợn con thường tử vong vì viêm cơ tim cấp tính, đồng thời chính quyền áp dụng quy định tiêu hủy triệt để đàn lợn nhiễm để dập dịch nhanh chóng.

Mùa nào trong năm đàn gia súc tại Quảng Ninh có nguy cơ mắc bệnh cao nhất? Thống kê 305 ca bệnh trên đàn trâu bò giai đoạn 2018-2020 cho thấy mùa Thu là thời điểm bùng phát dịch mạnh nhất chiếm 47,87%, tiếp đến là mùa Xuân chiếm 30,82% và mùa Đông chiếm 21,31%, trong khi mùa Hè ghi nhận 0,00%. Điều này đòi hỏi công tác tiêm phòng phải hoàn thành trước tháng 4 và tháng 10 hàng năm.

Vắc-xin vô hoạt Aftopor duy trì hiệu lực bảo vệ đàn gia súc trong thời gian bao lâu? Thử nghiệm huyết thanh học bằng kỹ thuật LPB-ELISA cho thấy vắc-xin Aftopor nhũ dầu kép tạo hàm lượng kháng thể trung hòa cao nhất sau 30-60 ngày tiêm chủng và tiếp tục duy trì tỷ lệ bảo hộ trên 80% cho đến ngày thứ 120, đáp ứng tiêu chuẩn phòng hộ của Tổ chức Thú y Thế giới.

Gia súc đã từng khỏi bệnh lở mồm long móng có cần tiếp tục tiêm vắc-xin không? Gia súc khỏi bệnh chỉ có miễn dịch tự nhiên tạm thời với đúng serotype virus đã nhiễm trong vòng 6 đến 12 tháng và hoàn toàn không có khả năng miễn dịch chéo với 6 serotype còn lại. Do đó, việc tiêm phòng nhắc lại định kỳ theo khuyến cáo của cơ quan thú y là bắt buộc để ngăn ngừa nguy cơ nhiễm các biến chủng mới.

Kết luận

Luận văn đã giải quyết toàn diện các mục tiêu nghiên cứu và mang lại những đóng góp khoa học nổi bật:

  • Làm rõ diễn biến dịch tễ bệnh lở mồm long móng tại Quảng Ninh giai đoạn 2018-2020 với tỷ lệ mắc ở trâu bò dưới 0,24% và xác định mùa Thu là đỉnh điểm bùng phát chiếm 47,87% tổng số ca bệnh.
  • Định danh chính xác 100% mẫu virus gây bệnh thực địa thuộc serotype O bằng phương pháp phân tử RT-PCR đạt chuẩn quốc gia.
  • Xác định hiệu lực bảo hộ thực địa của vắc-xin vô hoạt Aftopor type O với tỷ lệ đáp ứng miễn dịch cao kéo dài trên 120 ngày sau tiêm phòng.
  • Hoàn thiện gói giải pháp phòng chống dịch tổng thể với mục tiêu tiêm phòng đạt độ bao phủ trên 85% và kiểm soát 100% gia súc vận chuyển qua biên giới.
  • Cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu và quản lý dịch bệnh thú y trên phạm vi toàn quốc.

Trong giai đoạn tiếp theo, các địa phương cần duy trì lộ trình lấy mẫu giám sát huyết thanh định kỳ 6 tháng/lần và quản lý chặt chẽ mạng lưới vận chuyển gia súc. Hãy liên hệ ngay với Chi cục Chăn nuôi và Thú y địa phương để tiếp cận quy trình tiêm phòng chuẩn và bảo vệ an toàn cho đàn vật nuôi!