Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI VẬN ĐỘNG VIÊN THỂ THAO THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Khái quát chung về hợp đồng lao động dành cho vận động viên 1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại hợp đồng lao động 1. Khái niệm về hợp đồng lao động Trong quan hệ xã hội thì hợp đồng được xem là một trong những hình thức pháp lý cơ bản.
Để xã hội có thể tồn tại và phát triển một cách tốt nhất, các chủ thể có thể thực hiện việc trao đổi các lợi ích của mình thông qua sự thỏa thuận giữa các bên, phải dựa trên các nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng và được pháp luật bảo vệ. “Hợp đồng” được định danh bằng thuật ngữ pháp lý dựa trên các hiện tượng đó. Trong lĩnh vực lao động thì Bộ luật Lao động được xác định là "luật gốc", Bộ luật Lao động đã đề cập một cách đầy đủ về các nội dung liên quan đến việc quản lý, sử dụng lao động và làm việc của người lao động, quan hệ lao động và các quan hệ xã hội khác có liên quan đến quan hệ lao động cũng được điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn như: hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể, tiền lương, bảo hiểm xã hội, đình công,…. đã được điều chỉnh hợp lý.
Trong quá trình thực hiện, hệ thống pháp luật lao động tiếp tục được sửa đổi và hoàn thiện cho phù hợp với quá trình phát triển của xã hội. Xét trên tổng thể, Bộ luật Lao động năm 2012 đã quy định tiêu chuẩn lao động; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của NLĐ, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện của NLĐ, tổ chức đại diện người sử dụng lao động trong QHLĐ và các quan hệ khác liên quan trực tiếp đến QHLĐ; quản lý nhà nước về lao động, với những nội dung chủ yếu sau: Tiếp tục khẳng định quyền tự do tìm việc, lựa chọn việc làm và 9 nơi làm việc của NLĐ; quyền được thương lượng thỏa thuận với người sử dụng lao động về những vấn đề liên quan đến lợi ích của mình trong quá trình làm việc. người sử dụng lao động muốn sử dụng NLĐ làm việc lâu dài cần phải có chính sách đãi ngộ phù hợp và có sức cạnh tranh cao. - Quy định tại chương III , mục 1 Giao kết hợp đồng lao động, Điều 15 Luật số: 10/2012/QH13 ban hành ngày 18 /03/2012 và có hiệu lực ngày 01/05/2013 có ghi “Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.
Giao kết hợp đồng lao động là quá trình người lao động và người sử dụng lao động bày tỏ ý chí nhằm đi đến việc xác lập quan hệ, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng lao động. Trên cơ sở tuân theo nguyên tắc do pháp luật quy định về nguyên tắc giao kết, điều kiện, chủ thể, hình thức, nội dung. Tự do giao kết hợp đồng, nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội. Nội dung của nguyên tắc thể hiện hai vế có tầm quan trọng hàng đầu trong giao kết hợp đồng: tự do nhưng không được trái với các đòi hỏi mà pháp luật quy định: không được trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Giao kết hợp đồng được bắt đầu bằng việc một bên đề nghị với bên kia giao kết hợp đồng và đồng thời thường kèm theo ngay nội dung chủ yếu của hợp đồng và thời hạn trả lời. Trong trường hợp đó, người đề nghị không được thay đổi, mời người thứ ba trong thời hạn chờ trả lời và phải chịu trách nhiệm về lời đề nghị của mình. Về các nội dung cụ thể của hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quá trình tham gia vào quan hệ lao động có thể thấy là sự thỏa thuận một cách bình đẳng, tự nguyện giữa người lao động và người sử dụng lao động. Như vậy hợp đồng lao động của chủ thể là người lao động có nhu cầu về việc 10 làm và người sử dụng lao động có nhu cầu thuê mướn sức lao động có thể xem là sự thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng.
Nhưng người lao động bắt buộc chịu sự quản lý của người sử dụng lao động, cam kết làm hoặc làm một số công việc theo thỏa thuận để được hưởng lương và thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo thỏa thuận. Điều kiện để tham gia vào quan hệ lao động là người lao động phải là người từ đủ 15 tuổi trở lên và có có khả năng lao động. Đối với một số trường hợp, pháp luật cho phép sử dụng lao động là người dưới 15 tuổi nhưng khi giao kết hợp đồng lao động phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha, mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp của người lao động đó. Trong các quan hệ lao động nếu có yếu tố nước ngoài, điều kiện chủ thể của NLĐ được pháp luật quy định chặt chẽ hơn, phải thỏa mãn các điều kiện để được cấp giấy phép lao động cụ thể: “Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật; có sức khỏe phù hợp với yêu cầu công việc; là nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia hoặc lao động kỹ thuật; không phải là người phạm tội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài; được chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc sử dụng người lao động nước ngoài” [23, tr.
Trong nền kinh tế thị trường, Hiến pháp đã ghi nhận quyền tự do kinh doanh của các thành phần kinh tế, do vậy hầu như mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức đều có thể trở thành người sử dụng lao động nếu có thuê mướn lao động. Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 BLLĐ, đối với người sử dụng lao động là các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, pháp luật lao động không quy định trực tiếp điều kiện cụ thể. Điều kiện chủ thể và thẩm quyền giao kết Hợp đồng lao động của các chủ thể này sẽ do các luật khác quy định. 11 Đối với người sử dụng lao động là cá nhân thì pháp luật lao động quy định trực tiếp về điều kiện chủ thể.
Đặc điểm của hợp đồng lao động Thứ nhất, trong hợp đồng lao động phải có sự phụ thuộc về pháp lý giữa NLĐ và người sử dụng lao động. Hợp đồng lao động đã taọ ra sự phụ thuộc pháp lý giữa người lao động và người sử dụng lao động. Sự phụ thuộc mà được pháp luật thừa nhận và sự phụ thuộc này phải mang tính khách quan tất yếu khi người lao động tham gia vào quan hệ lao động đó được hiểu là sự phụ thuộc pháp lý. Đây được coi là đặc trưng tiêu biểu nhất của hợp đồng lao động để phân biệt hợp đồng lao động với hợp đồng dân sự, thương mại được nhiều các quốc gia thừa nhận, so sánh với tất cả các loại hợp đồng khác, duy nhất hợp đồng lao động có đặc trưng này.
Trong quá trình tham gia vào quan hệ lao động, mỗi người lao động thực hiện nghĩa vụ với tính cá nhân đơn lẻ nhưng quá trình lao động lại mang tính xã hội hóa cao, hiệu quả cuối cùng phụ thuộc vào sự hợp tác của tất cả các cá nhân và sự điều hành của người sử dụng lao động (người sử dụng lao động có quyền ra các mệnh lệnh, chỉ thị còn người lao động có nghĩa vụ thực hiện). Khi người sử dụng lao động phải bỏ tiền ra để mua sức lao động đương nhiên họ phải tính toán về kết quả và hiệu suất giải quyết công việc nên họ có quyền quyết định các cách thức làm việc, quản lý, giám sát, điều hành kinh doanh trong quá trình sử dụng lao động.để đạt hiệu quả và lợi ích cao nhất. Hơn thế nữa người sử dụng lao động có quyền thay đổi địa điểm kinh doanh, giải thể, tổ chức lại, yêu cầu phá sản dẫn đến sự thay đổi về lao động. Quyền này đã được pháp luật công nhận và trao lại cho người sử dụng lao động và quyền này là một quyền đặc thù của người sử dụng lao động trong quan hệ pháp luật lao động.
12 Ở đây, vai trò của pháp luật hợp đồng lao động rất quan trọng. Một mặt, pháp luật đảm bảo và tôn trọng quyền quản lý của người sử dụng lao động. Mặt khác do người lao động cung ứng sức lao động, sự điều phối của người sử dụng lao động có sự tác động lớn đến sức khỏe, tính mạng, danh dự nhân phẩm của người lao động, cho nên pháp luật các nước thường có các quy định ràng buộc, kiểm soát sự quản lý của người sử dụng lao động trong khuôn khổ và tương quan với sự bình đẳng có tính bản chất của quan hệ lao động. Thứ hai, việc làm có trả lương chính là đối tượng của hợp đồng lao động Hợp đồng lao động không giống với các loại hợp đồng khác, nó là một mối quan hệ mua bán hàng hàng hóa đặc biệt.
Hàng hóa đặc biệt ở đây chính là sức lao động. Loại hàng hóa đặc biệt này không thể tách rời với người lao động mà nó luôn tồn tại gắn liền với chính cơ thể của người lao động bao gồm cả sức lực và trí lực. Có thể nói “sức lao động” Là một loại hàng hóa mang tính trừu tượng nó chỉ có thể chuyển giao từ “bên bán” sang “bên mua” thông qua việc thực hiện một công việc nào đó cho bên mua. Vì vậy, việc mua hàng hóa của người sử dụng lao động ở đây chính là sức lao động thì sẽ được hiểu như người sử dụng lao động đang sở hữu một quá trình lao động của người lao động được biểu thị thông qua trình độ, ý thức kỹ luật, thời gian làm việc,….
để thực hiện được yêu cầu của người sử dụng lao động thì người lao động cần phải cung ứng chính sức lao động của chính mình đó chính là trí lực và thể lực thông qua khoảng thời gian được xác định. Khi các bên thỏa thuận về công việc phải làm, các bên đã tính toán cân nhắc về thể lực và trí lực của người lao động để thực hiện công việc đó.