mở đầu về cấu tạo chất, nguyên tử, nguyên tố hóa học, phân tử đơn chất, hợp chất, phản ứng hóa học, công thức hóa học, phương trình hóa học, mol, hóa trị, định luật bảo toàn khối lượng… - Những kiến thức về oxi, hiđro, một số kim loại, phi kim và các loại hợp chất vô cơ: oxit, bazơ, axit, muối. - Kiến thức về một số hợp chất hữu cơ phổ biến và quan trọng nhất. Chương trình hóa học ở trường trung học cơ sở trang bị cho học sinh những kiến thức hóa học phổ thông thiết thực quan trọng nhất làm cơ sở cho việc xây dựng thế giới quan khoa học, cho việc chuẩn bị để học sinh bước vào cuộc sống lao động hoặc tiếp tục học lên trung học phổ thông. Người giáo viên hóa học trường THCS cũng cần hiểu rõ nhiệm vụ cơ bản của bộ môn hóa học bậc THPT để kết hợp khi thực hiện nhiệm vụ của bộ môn ở bậc THCS ngay cả khi bậc THCS và bậc THPT còn là hai cấp học phân biệt.
b) Nhiệm vụ cơ bản của việc dạy học ở trường THPT: (1) Về kiến thức: Trang bị cho học sinh những cơ sở khoa học của hóa học ở mức độ cần thiết để họ có thể đi vào cuộc sống hoặc tiếp tục học lên bậc đại học hoặc các trường chuyên nghiệp. Phát triển và hoàn chỉnh những kiến thức hóa học cấp THCS, cung cấp một hệ thống kiến thức hóa học phổ thông cơ bản, hiện đại, thiết thực có nâng cao gồm: Hóa đại cương: bao gồm hệ thống lí thuyết chủ đạo, làm cơ sở để nghiên cứu các chất hóa học cụ thể. Thí dụ như: cấu tạo nguyên tử, liên kết hóa học, hệ thống tuần hoàn và định luật tuần hoàn, phản ứng oxi hóa – khử, thuyết cấu tạo hóa học, đại cương về kim loại… Hóa vô cơ: Vận dụng lí thuyết chủ đạo để nghiên cứu các đối tượng cụ thể như nhóm nguyên tố, những nguyên tố điển hình và các hợp chất có nhiều ứng dụng quan trọng, gần gũi trong thực tế đời sống, sản xuất hóa học… Hóa hữu cơ: Vận dụng lí thuyết chủ đạo nghiên cứu các chất hữu cơ cụ thể, một số dãy đồng đẳng hoặc loại chất hữu cơ cụ thể, một số dãy đồng đẳng hoặc loại chất hữu cơ tiêu biểu, có nhiều ứng dụng gần gũi trong đời sống sản xuất… (2) Về kĩ năng: Phát triển các kỹ năng bộ môn hóa học, kĩ năng giải quyết vấn đề đã có ở tiểu học và trung học cơ sở để phát triển năng lực nhận thức và năng lực hành động cho học sinh như: - Biết quan sát thí nghiệm, phân tích, dự đoán, kết luận và kiểm tra kết quả… - Biết làm việc với tài liệu giáo khoa và các tài liệu tham khảo: tóm tắt nội dung chính, phân tích và kết luận. - Biết thực hiện một số thí nghiệm hóa học độc lập và theo nhóm.
- Biết cách làm việc hợp tác với các học sinh khác trong nhóm nhỏ để hoàn thành một nhiệm vụ tìm tòi nghiên cứu. - Biết vận dụng để giải quyết một số vấn đề đơn giản của cuộc sống hàng ngày có liên quan đến hóa học. - Biết lập kế hoạch để giải một bài tập hóa học, một thí nghiệm, một đề tài nhỏ có liên quan đến hóa học… 1. Nhiệm vụ giáo dục của việc dạy học hóa học ở trường phổ thông Nhiệm vụ giáo dục tư tưởng, đạo đức này bao gồm những nội dung chính sau đây: a) Hình thành thế giới quan duy vật biện chứng, thông qua việc làm sáng tỏ một số khái niệm quan trọng của thế giới quan duy vật khoa học và những quy luật tổng quát của phép biện chứng: quan điểm duy vật biện chứng về vật chất, các hình thức vận động của vật chất, tính thống nhất vật chất của thế giới, vật chất có trước và ý thức có sau, khả năng nhận thức được thế giới; quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập; quy luật chuyển hóa những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại; quy luật phủ định của phủ định.
b) Giáo dục đạo đức, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân: lòng nhân ái, lòng yêu nước, yêu lao động, tinh thần quốc tế, sự tuân thủ pháp luật, sự tôn trọng và bảo vệ thiên nhiên. c) Tiếp tục hình thành và phát triển ở học sinh thái độ tích cực như: - Hứng thú học tập bộ môn hóa học. - Có ý thức trách nhiệm đối với một vấn đề của cá nhân, tập thể, cộng đồng có liên quan đến hóa học. - Nhìn nhận và giải quyết vấn đề một cách khách quan, trung thực trên cơ sở phân tích khoa học.
- Có ý thức vận dụng những điều đã biết về hóa học vào cuộc sống và vận động người khác cùng thực hiện. Nhiệm vụ phát triển tiềm lực trí tuệ của học sinh Nhiệm vụ này đòi hỏi rèn luyện cho HS những năng lực nhận thức và năng lực hành động: - Phát triển năng lực quan sát, trí tưởng tượng khoa học. - Rèn luyện các thao tác tư duy cần thiết trong học tập hóa học (phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, khái quát hóa, trừu tượng hóa…) và các hình thức tư duy (phán đoán, suy lí quy nạp và diễn dịch…). Phát huy năng lực tư duy logic và tư duy biện chứng.
- Xây dựng cho học sinh năng lực tự học, tự nghiên cứu và óc sáng tạo. - Phát hiện và bồi dưỡng các học sinh có năng khiếu đối với bộ môn. Mối quan hệ giữa ba nhiệm vụ của việc dạy học hóa học Mối quan hệ giữa ba nhiệm vụ trên đây là rất chặt chẽ. Thông qua con đường trí dục mà giúp phát triển nhận thức một cách toàn diện và giáo dục tư tưởng đạo đức.
Đức dục là kết quả tất yếu của sự hiểu biết. Hệ thống kiến thức cơ bản của chương trình hóa học THPT Chương trình hóa học trường THPT là hệ thống những kiến thức cơ bản về hóa học đã được lựa chọn theo những nguyên tắc nhất định phụ thuộc vào mục tiêu giáo dục của trường THPT, vào đặc điểm sự phát triển khoa học, vào những quy luật sư phạm nhất định và thực tiễn Việt Nam. Hệ thống những kiến thức đó bao gồm những hiểu biết cơ bản, mấu chốt nhất, có thể dùng nền tảng, làm vũ khí để người học có khả năng tiếp tục đi sâu vào ngành khoa học này, cũng như vào các ngành có liên quan. Có thể nói đó là hệ thống những hiểu biết quan trọng nhất mà không có chúng thì không thể hiểu và học hóa học được, nó tạo thành bộ xương sống cho nội dung dạy học.
Đó là những kiến thức cơ bản nhất buộc HS phải biết. Những kiến thức cơ bản nhất thường giúp học sinh suy ra được những kiến thức khác và những kiến thức này lại giúp đào sâu thêm kiến thức cơ bản nhất đó. Phân tích chương trình ta thấy các kiến thức cơ bản thường tập hợp thành những “vùng kiến thức” hay “vùng khái niệm” mà hạt nhân thường là khái niệm trung tâm tức là kiến thức cơ bản nhất, buộc phải biết ở vùng đó. Các vùng kiến thức đó được sắp xếp liên tục theo một logic khoa học, giống như những mắt xích của một chuỗi dây xích.
Đối với chương trình hóa học trường THPT, những kiến thức cơ bản tạo thành nội dung chủ yếu của chương trình là những nhóm khái niệm cơ bản sau đây: - Khái niệm về cấu tạo nguyên tử, nguyên tố hóa học, định luật tuần hoàn và bảng tuần hoàn. - Những khái niệm chung và trừu tượng phản ánh tính chất của các nguyên tố như độ âm điện, hóa trị, số oxi hóa…. - Những khái niệm về cấu tạo chất (liên kết hóa học, cấu tạo mạng tinh thể. - Những khái niệm về chất.
Các chất cụ thể, phân loại các chất, khái niệm tổng quát về chất. - Những khái niệm về phản ứng hóa học, về từng phản ứng riêng rẽ, về phân loại phản ứng, về những định luật hóa học chi phối sự tác dụng tương hỗ và những biến hóa của chất trong các phản ứng hóa học, về lí thuyết phản ứng. - Những khái niệm về ứng dụng thực tiễn quan trọng có tính chất kĩ thuật tổng hợp của hóa học phục vụ cho cuộc sống, sản xuất và trong khoa học kỹ thuật. - Những khái niệm về hợp chất hữu cơ có nhóm chức và những mối liên quan dẫn xuất của các chất.
- Những khái niệm về phương pháp nghiên cứu khoa học đặc trưng cho hóa học. Vai trò của môn hóa học trong việc hình thành thế giới quan khoa học cho HS 1. Hóa học phổ thông làm rõ khái niệm về vật chất a) Khái niệm triết học duy vật biện chứng về vật chất “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, không phụ thuộc vào ý thức và khi tác động vào giác quan thì gây nên cảm giác”. Vật chất được coi là thực tiễn khách quan đưa ra cho học sinh trên cơ sở quy nó về vật chất cụ thể : đây là một trong hai dạng vật chất (chất và trường).
Chất – đó là đối tượng nghiên cứu của hóa học. Nếu hiểu rõ tính chất và cấu tạo của các chất thì học sinh sẽ hiểu rõ hơn khái niệm về chất. Khái niệm về các chất được hình thành dần dần, bắt đầu từ THCS học sinh đã biết rằng trong tự nhiên có rất nhiều chất khác nhau (khoảng 10 triệu chất); các hợp chất này là muôn hình muôn vẻ nhưng chỉ do một số ít (khoảng 110) nguyên tố hóa học tạo thành. Bản chất vật chất của các chất là ở chỗ chúng do nguyên tử và phân tử tạo nên, các chất khác nhau do những phân tử, nguyên tử khác nhau hợp thành, hoặc do những nguyên tử khi kết hợp lại nhau theo nhiều cách khác nhau.
Chương trình hóa học trường THCS và THPT cung cấp nhiều dẫn chứng xác minh sự tồn tại khách quan của những phần tử nhỏ bé nhất của vật chất. b) Tính thống nhất vật chất của thế giới (thế giới vật chất có tính thống nhất) Những phân tử của một hợp chất đều do các nguyên tử của những nguyên tố nhất định hợp thành dù những phân tử đó ở đâu trên trái đất hay ở địa điểm nào trong hệ thái dương. Sự thống nhất đó, mối liên hệ giữa các hợp chất với nhau sẽ được xét đến khi học về sự phân loại các hợp chất vô cơ, kim loại, phi kim ở lớp 9, sau đó ở lớp 10. Những đơn chất này thuộc vào nhóm kim loại, những đơn chất kia thuộc loại phi kim.