phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tổ chức thực hiện pháp luật về giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai ở đô thị. Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai ở quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Chƣơng 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai ở đô thị từ thực tiễn quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. 5 e Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI Ở ĐÔ THỊ 1.
Quan niệm về giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai ở đô thị 1. Khiếu nại trong lĩnh vực đất đai ở đô thị 1. Khái niệm khiếu nại về đất đai ở đô thị * Khiếu nại Điều 30 Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi ngƣời có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Khiếu nại là một hiện tƣợng xã hội, do đó có nhiều quan niệm và cách hiểu khác nhau về khiếu nại.
Khiếu nại theo gốc tiếng Latinh: "Complant", nghĩa là sự phàn nàn, phản ứng, bất bình của ngƣời nào đó về vấn đề có liên quan đến lợi ích của mình [11, tr. Theo Thuật ngữ pháp lý phổ thông thì khiếu nại là "việc yêu cầu cơ quan nhà nƣớc, tổ chức xã hội hoặc ngƣời có chức vụ giải quyết việc vi phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân ngƣời khiếu nại hay ngƣời khác" [10, tr. Theo Đại Từ điển tiếng Việt: "khiếu nại: thắc mắc, đề nghị xem xét lại những kết luận, quyết định do cấp có thẩm quyền đã làm, đã chuẩn y" [17, tr. Nhƣ vậy, khiếu nại theo nghĩa chung là việc cá nhân hay tổ chức yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm sửa chữa một việc làm mà họ cho là không đúng đắn, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích chính đáng của họ và đòi bồi thƣờng thiệt hại do việc làm không đúng gây ra.
Theo quy định tại điều 2, Luật khiếu nại năm 2011: “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của CQHCNN, của ngƣời có thẩm quyền 6 e trong CQHCNN hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”. Từ những khái niệm trên cho thấy, khiếu nại là đề nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức chịu tác động trực tiếp của quyết định hành chính hay hành vi hành chính. Xét về bản chất, đây là thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nƣớc và công dân mà trong đó bên đi khiếu nại đề nghị cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của chính bản thân ngƣời đi khiếu nại. Đề nghị này xuất phát từ nhận thức chủ quan của ngƣời khiếu nại khi họ cho rằng quyền và lợi ích chính đáng của mình bị xâm phạm bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính.
Cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền chỉ có thể kết luận là có sự vi phạm hay không sau khi đã xem xét, giải quyết theo đúng trình tự, thủ tục một cách khách quan cùng những tài liệu và chứng cứ có liên quan đến nội dung khiếu nại. * Đất đai ở đô thị Đất đô thị gắn liền với đất đai toàn quốc, đƣợc xác định bằng giới hạn địa giới hành chính đô thị. Tính chất sử dụng đất đô thị mang tính chuyên dùng đa dạng, tập trung, hiệu quả khai thác sử dụng không chỉ theo chiều rộng, mà còn cả chiều sâu và chiều cao; làm cho đất đô thị ngoài giá trị tài nguyên còn có giá trị tài sản theo từng vị trí của thửa đất hay khu đất. Sự phân loại đất theo luật pháp hiện hành (Luật đất đai 2013) không có quy định riêng loại đất đô thị.Với quan niệm cho rằng tuy số lƣợng sử dụng đất ở đô thị tập trung hơn, nhiều hơn, giá trị cao hơn, nhƣng tính chất về sử dụng đất chuyên dùng nhƣ xây dựng nhà ở, cơ quan, cơ sở sản xuất kinh doanh, cơ sở hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng, quốc phòng, an ninh… ở đô thị cũng nhƣ nhiều nơi khác.
Do đó, đất sử dụng trong đô thị đƣợc xếp vào nhóm đất phi nông nghiệp (theo điều 10 Luật Đất đai 2013). Đất đai đô thị không cố định, mà luôn thay đổi theo sự phát triển đô thị do quyết định thành 7 e lập đô thị mới hoặc quyết định điều chỉnh địa giới hành chính mở rộng đô thị của cơ quan có thẩm quyền. * Khiếu nại đất đai ở đô thị Trên cơ sở, khoản 1 điều 204 Luật đất đai 2013 quy định: “Ngƣời sử dụng đất, ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai” và Luật khiếu nại 2011, khái niệm khiếu nại đất đai ở đô thị đƣợc hiểu nhƣ sau: Khiếu nại về đất đai ở đô thị là việc công dân, cơ quan, tổ chức theo trình tự, thủ tục khiếu nại và GQKN do Luật đất đai và Luật khiếu nại quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai ở đô thị khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp lật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình Nhƣ vậy, khiếu nại về đất đai ở đô thị là một dạng khiếu nại hành chính, đó là việc “ngƣời sử dụng đất” khiếu nại các quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính của cơ quan quản lý đất đai ở đô thị hoặc của ngƣời có thẩm quyền trong cơ quan quản lý đất đai ở đô thị khi thi hành công vụ, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của “ngƣời sử dụng đất” 1. Đặc điểm khiếu nại về đất đai ở đô thị Khiếu nại về đất đai ở đô thị là một trong những dạng đặc biệt của khiếu nại hành chính, nên bên cạnh những đặc điểm chung của khiếu nại hành chính, khiếu nại về đất đai ở đô thị còn mang những đặc điểm đặc trƣng riêng khác với các khiếu nại thuộc các lĩnh vực khác.
Sự khác biệt đó thể hiện ở những điểm chủ yếu sau đây: - Chủ thể của khiếu nại về đất đai ở đô thị chỉ có thể là chủ thể của quyền quản lý và quyền sử dụng đất ở đô thị mà không phải là chủ thể của quyền sở hữu đất đai thuộc nhóm đất nào khác. Quyền sử dụng đất của các chủ thể đƣợc xác lập dựa trên quyết định giao đất, cho thuê đất của Nhà nƣớc, 8 e đƣợc Nhà nƣớc cho phép nhận chuyển nhƣợng từ các chủ thể khác hoặc đƣợc Nhà nƣớc công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với diện tích đất ở đô thị đang sử dụng. Nhƣ vậy, chủ thể của khiếu nại về đất đai ở đô thị là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tham gia với tƣ cách là ngƣời quản lý hoặc ngƣời sử dụng đất ở đô thị. - Nội dung của khiếu nại về đất đai ở đô thị rất đa dạng và phức tạp.
Hoạt động quản lý và sử dụng đất ở đô thị trong nền kinh tế thị trƣờng diễn ra rất đa dạng, phong phú với việc sử dụng đất ở đô thị vào nhiều mục đích khác nhau, với diện tích, nhu cầu sử dụng khác nhau.Trong nền kinh tế thị trƣờng, việc quản lý và sử dụng đất ở đô thị không đơn thuần chỉ là việc quản lý và sử dụng một tƣ liệu sản xuất. Đất đai ở đô thị đã trở thành một loại hàng hóa đặc biệt, có giá trị thƣơng mại, giá đất lại biến động theo quy luật cung cầu trên thị trƣờng, nên việc quản lý và sử dụng nó không đơn thuần chỉ là việc khai thác giá trị sử dụng mà còn bao gồm cả giá trị sinh lời của đất (thông qua các hành vi kinh doanh quyền sử dụng đất). Tất nhiên, khi nội dung quản lý và sử dụng đất phong phú và phức tạp hơn thì những mâu thuẫn, bất đồng xung quanh việc quản lý và sử dụng đất đai ở đô thị cũng trở nên gay gắt và trầm trọng hơn. - Đối tƣợng của khiếu nại về đất đai ở đô thị là quyền quản lý và quyền sử dụng đất.
Đất đai ở đô thị là loại tài sản đặc biệt không thuộc quyền sở hữu của các chủ thể quản lý, sử dụng đất, mà thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nƣớc đại diện chủ sở hữu. Nội dung khiếu nại về đất đai ở đô thị Nội dung khiếu nại về đất đai ở đô thị của các tổ chức, cá nhân rất đa dạng, phức tạp, nhƣng chủ yếu tập trung vào các vấn đề sau: - Khiếu nại về thu hồi đất, bồi thƣờng giải phóng mặt bằng, bố trí tái định cƣ. Để thực hiện chính sách phát triển kinh tế, xã hội của đất nƣớc, Nhà nƣớc đã tiến hành thu hồi đất, giải phóng mặt bằng phục vụ cho các dự án. 9 e Tuy nhiên, vấn đề bồi thƣờng và hỗ trợ, tiến hành tái định cƣ cho những đối tƣợng bị thu hồi đất ở đô thị gặp không ít khó khăn, vƣớng mắc.
Nội dung khiếu nại tập trung vào những vấn đề: Định giá đất đô thị để bồi thƣờng thấp hơn khung giá đất của Nhà nƣớc, giá đất khu tái định cƣ cao hơn so với giá đất Nhà nƣớc bồi thƣờng khi thu hồi đất; Bố trí tái định cƣ không đảm bảo, chất lƣợng nhà tái định cƣ thấp, diện tích tái định cƣ quá nhỏ, bố trí tái định cƣ không phù hợp, điều kiện điện nƣớc, các dịch vụ y tế, trƣờng học không đảm bảo, trƣờng hợp sử dụng đất kinh doanh thì khi di chuyển sang nơi mới, hộ kinh doanh không còn điều kiện thuận lợi nhƣ trƣớc. Trƣớc khi thu hồi đất, chủ đầu tƣ cam kết với ngƣời có đất bị thu hồi trong việc giải quyết việc làm nhƣng rất ít chủ đầu tƣ thực hiện đƣợc cam kết của mình với ngƣời dân sau khi đƣợc giao đất.