phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn có kết cấu gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về các tổ chức định giá công nghệ. Chƣơng 2: Thực trạng về các tổ chức định giá công nghệ tại Việt Nam. Chƣơng 3: Đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển các tổ chức định giá công nghệ tại Việt Nam. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÁC TỔ CHỨC ĐỊNH GIÁ CÔNG NGHỆ 1.
Cơ sở lý luận về chuyển giao công nghệ Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia 28, công nghệ là sự tạo ra, sự biến đổi, việc sử dụng kiến thức về các công cụ, máy móc, kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp, hệ thống, phương pháp tổ chức, nhằm giải quyết một vấn đề, cải tiến một giải pháp đã tồn tại, đạt một mục đích, hay thực hiện một chức năng cụ thể. Công nghệ cũng có thể chỉ là một tập hợp những công cụ, gồm máy móc, những sự sắp xếp hay những quy trình. Công nghệ có ảnh hưởng đáng kể lên khả năng kiểm soát và thích nghi của con người vào môi trường tự nhiên của mình. Thuật ngữ công nghệ có thể được dùng theo nghĩa chung hay cho những lĩnh vực cụ thể.
Như vậy, công nghệ ở đây có phạm vi rộng nên chưa thực sự làm rõ được bản chất của khái niệm công nghệ. Để nhấn mạnh tri thức, kiến thức là một trong các hình thức biểu hiện của công nghệ, Trần Ngọc Ca (1998) đã nghiên cứu và tập hợp các quan niệm về công nghệ của một số học giả trên thế giới, cụ thể: - Công nghệ là dạng kiến thức có thể áp dụng được vào việc sản xuất ra các sản phẩm và sáng tạo ra các sản phẩm mới. - Công nghệ là cách thức mà qua đó các nguồn lực được chuyển thành hàng hóa. - Công nghệ là tập hợp các kiến thức về một quy trình và/hoặc các kỹ thuật chế biến cần thiết để sản xuất ra vật liệu, cấu kiện và sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh.
9 - Công nghệ là nguồn lực bao gồm kiến thức được áp dụng để nâng cao hiệu quả sản xuất và tiếp thị cho những sản phẩm và dịch vụ đang có và tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới. - Công nghệ là kiến thức không sờ mó được và không phân chia được và có lợi về mặt kinh tế khi sử dụng để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ. - Công nghệ là sự áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng những nghiên cứu và cách xử lý một cách có hệ thống và có phương pháp. Để nhấn mạnh công nghệ như một hệ thống và có ứng dụng rộng rãi trong đời sống xã hội, Đặng Nguyên và Thu Hà (2002) đã tập hợp các khái niệm về công nghệ và đưa ra 8P công nghệ: - Công nghệ là một hệ thống mà xã hội phải hy sinh những nhu cầu và mong muốn của mình.
- Công nghệ bao gồm một phạm vi rộng lớn các hoạt động và các chức năng trong doanh nghiệp được ủy thác sản xuất các sản phẩm mới và hoàn thiện cùng những quá trình, vật liệu và các bí quyết đối với công ty. - Công nghệ dựa trên những kiến thức lý thuyết, thực tế và kỹ năng để tạo ra các sản phẩm và các dịch vụ cũng như những hệ thống phân phối và sản xuất. - Công nghệ là một hệ thống chuyển đổi các bí quyết độc quyền thành sự thương mại hóa sản phẩm. Điều này bao gồm cả những hoạt động sản xuất, chất lượng được đảm bảo, con người, quá trình thông tin, hợp thành một thể thống nhất dưới dạng những dự án.
- 8P công nghệ bao gồm: Công nghệ là các sản phẩm (P1- Product); Công nghệ là quá trình (P2- Process); Công nghệ là sự sở hữu các bí quyết (P3- Proprietary); Công nghệ là sự triển khai (P4- Processing); Công nghệ là sự đảm bảo (P5- Promise); Công nghệ là con người (P6- People); Công nghệ là một dự án (P7- Project); Công nghệ mở đường cho lợi nhuận (P8- Profit). 10 Cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, quan niệm về công nghệ cũng được đưa ra bởi các tổ chức quốc tế có uy tín. Mỗi một tổ chức lại có cách tiếp cận khác nhau, dựa trên mục tiêu sử dụng khác nhau. - Theo Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc (UNIDO), công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thống và có phương pháp.
- Theo Ủy ban Kinh tế và Xã hội châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP, 1989), công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình kỹ thuật để chế biến vật liệu và thông tin; công nghệ bao gồm kỹ năng, kiến thức, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch vụ. - Theo Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD, 1972), công nghệ là đầu vào cần thiết cho sản xuất và như vậy nó được mua và bán trên thị trường như một hàng hóa được thể hiện ở một trong các dạng sau: tư liệu sản xuất và đôi khi là các sản phẩm trung gian, được mua và bán trên thị trường, đặc biệt là gắn với các quyết định định đầu tư; nhân lực và thông thường là nhân lực có trình độ và đôi khi là nhân lực có trình độ cao và chuyên sâu, với khả năng sử dụng đúng thiết bị và kỹ thuật và làm chủ được bộ máy giải quyết vấn đề và sản xuất thông tin; thông tin, dù đó là thông tin kỹ thuật hay thông tin thương mại, được đưa ra trên thị trường hay được giữ bí mật như một phần của hoạt động độc quyền. - Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD, 1996), công nghệ được hiểu là một tập hợp các kỹ thuật, mà bản thân chúng được định nghĩa là một tập hợp các hành động và quy tắc lựa chọn chỉ dẫn việc ứng dụng có trình tự các kỹ thuật đó mà theo hiểu biết của con người thì sẽ đạt một kết quả định trước trong một hoàn cảnh nhất định. - Theo Ngân hàng Thế giới (WB, 1985), công nghệ là phương pháp chuyển hóa các nguồn lực thành sản phẩm, gồm ba yếu tố: thông tin và 11 phương pháp; phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp để thực hiện việc chuyển hóa; sự hiểu biết phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao.
- Theo cách tiếp cận của một số nhà quản lý công nghiệp Nhật Bản, công nghệ bao gồm năm yếu tố, đó là quản lý, tiền vốn, thị trường, máy móc, nguyên vật liệu. Tại Việt Nam, một số tài liệu được sử dụng trong nghiên cứu và giảng dạy thời gian qua, quan niệm về công nghệ thường đề cập tới các yếu tố cấu thành công nghệ, dựa trên quan điểm của Sharif (1986) và Ramanathan (1995). Theo đó một công nghệ gồm 4 thành phần: (i) Phần kỹ thuật: công nghệ hàm chứa trong các dạng vật thể như máy móc, thiết bị, phương tiện và cấu trúc hạ tầng; (ii) Phần con người: công nghệ hàm chứa trong các kỹ năng công nghệ của con người, nó bao gồm kiến thức, kinh nghiệm do học hỏi và tích lũy được trong quá trình sử dụng công nghệ; (iii) Phần thông tin: công nghệ hàm chứa trong các dạng dữ liệu đã được tư liệu hóa để sử dụng trong các hoạt động của công nghệ; (iv) Phần tổ chức: công nghệ hàm chứa trong khung thể chế để xây dựng lên cấu trúc tổ chức như quy định về quyền hạn, trách nhiệm, sự phối hợp của các cá nhân trong hoạt động công nghệ. Dựa trên các quan điểm về công nghệ ở trên, có bốn khía cạnh cần được bao quát trong định nghĩa về công nghệ (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, 2010): - Công nghệ là “máy biến đổi”, đề cập tới khả năng làm ra sản phẩm, dịch vụ đáp ứng và thỏa mãn được yêu cầu kinh tế, xã hội, đây là khác biệt giữa khoa học và công nghệ; công nghệ không tồn tại mãi mãi vì một công nghệ muốn xuất hiện thì phải hiệu quả hơn công nghệ cũ, còn khoa học là những phát minh, khám phá mang tính bền vững, khía cạnh này đã nhấn mạnh không chỉ tầm quan trọng của công nghệ trong việc giải quyết các vấn đề thực tế, mà còn nhấn mạnh sự phù hợp của mục đích kinh tế trong việc áp dụng công nghệ; 12 - Công nghệ là “công cụ”, đề cập tới công nghệ là sản phẩm của con người, cho nên con người có thể làm chủ được nó; - Công nghệ là “kiến thức”, đề cập tới công nghệ không nhất thiết phải nhìn thấy được và nhấn mạnh rằng các công nghệ giống nhau thì chưa chắc đã cho kết quả như nhau, vì thế muốn sử dụng công nghệ có hiệu quả thì nhất thiết con người phải được đào tạo về kỹ năng, kiến thức và được cập nhật thông tin; - Công nghệ là “hàm chứa trong các dạng hiện thân của nó”, đề cập tới công nghệ dù là kiến thức những vẫn được mua, bán, trao đổi trên thị trường và tuân theo quy luật thị trường.
Việc thống nhất khái niệm về công nghệ là cần thiết, bởi vì không thể thực hiện được các hoạt động liên quan tới công nghệ nếu chưa hiểu được chúng là gì. Luật Khoa học và công nghệ (2000, sửa đổi 2013) và Luật Chuyển giao công nghệ (2017) của Việt Nam có giải thích “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”. Đây là hành lang pháp lý quan trọng cho các hoạt động về công nghệ ở Việt Nam. Ngoài ra, một số thuật ngữ gắn với công nghệ cũng được Luật Chuyển giao công nghệ giải thích: “Công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có chất lượng và giá trị gia tăng cao; có khả năng hình thành các ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hoá ngành sản xuất, dịch vụ hiện có.
Công nghệ mới là công nghệ lần đầu tiên được tạo ra tại Việt Nam. Công nghệ tiên tiến là công nghệ hàng đầu, có trình độ công nghệ cao hơn trình độ công nghệ cùng loại hiện có”.