Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò là đầu tàu kinh tế, khoa học và công nghệ lớn nhất cả nước với quy mô hoạt động của hơn 20.000 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp. Mặc dù vậy, nguồn cung hàng hóa khoa học và công nghệ nội địa hiện mới chỉ đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu của nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ, dẫn đến tình trạng hơn 70% công nghệ đang vận hành trong các ngành sản xuất phải phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm đặt ra là giải quyết sự thiếu đồng bộ trong hệ thống thể chế quản lý nhà nước, phá vỡ các rào cản kết nối cung - cầu và hoàn thiện mạng lưới các tổ chức trung gian hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Mục tiêu cụ thể của luận văn thạc sĩ Quản lý công do tác giả Lê Minh Khánh thực hiện là hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng thực thi chính sách phát triển thị trường khoa học và công nghệ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 - 2018, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp toàn diện nhằm nâng cao hiệu lực quản lý công. Về mặt thực tiễn, công trình mang lại giá trị định hướng chính sách rõ rệt, thúc đẩy thực thi hiệu quả Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, tạo động lực giúp các doanh nghiệp nâng mức chi tiêu cho đổi mới công nghệ vượt qua ngưỡng 0,2% đến 0,3% doanh thu hiện tại và đóng góp trực tiếp vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững của đô thị đặc biệt.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận vấn đề dựa trên lý thuyết can thiệp công và mô hình cấu trúc thị trường khoa học công nghệ hiện đại. Theo quan điểm quản trị công nghệ tiên tiến, công nghệ không chỉ đơn thuần là máy móc mà được cấu thành từ 4 thành tố cốt lõi: phần kỹ thuật (thiết bị, công cụ, hạ tầng), phần thông tin (dữ liệu, bí quyết, quy trình công nghệ), phần con người (tri thức, kỹ năng, sự khéo léo) và phần tổ chức (phương thức vận hành, cơ cấu quản lý). Cùng với đó, thị trường khoa học và công nghệ được phân tích qua mô hình 5 yếu tố cấu thành không thể tách rời: khung pháp lý điều chỉnh, bên mua (cầu công nghệ), bên bán (cung công nghệ), hàng hóa kèm cơ sở xác định giá cả, và các dịch vụ trung gian xúc tác giao dịch.

Hệ thống khái niệm công cụ trong nghiên cứu bao gồm 4 khái niệm nền tảng:

  • Khoa học: Hệ thống tri thức về quy luật tự nhiên, xã hội và hoạt động nghiên cứu khoa học.
  • Công nghệ: Hệ thống các giải pháp, quy trình và bí quyết kỹ thuật dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm hoàn chỉnh.
  • Thị trường khoa học và công nghệ: Môi trường pháp lý, đầu tư và thương mại thúc đẩy giao dịch các sản phẩm, dịch vụ khoa học công nghệ dưới sự điều tiết của Nhà nước.
  • Dịch vụ khoa học và công nghệ: Các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật, môi giới, đánh giá, định giá và tư vấn pháp lý chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hệ thống thống kê chính thống của Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, báo cáo thường niên của Sở Khoa học và Công nghệ, cơ sở dữ liệu về 747 đơn đăng ký bảo hộ sở hữu công nghiệp và kết quả triển khai 250 đề tài nghiên cứu khoa học được phê duyệt giai đoạn 2011 - 2017. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm số liệu khảo sát diện rộng từ hơn 20.000 doanh nghiệp sản xuất và 106 doanh nghiệp đã trích lập quỹ khoa học công nghệ.

Phương pháp chọn mẫu được thực hiện theo nguyên tắc phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện, phân chia doanh nghiệp theo các ngành công nghiệp mũi nhọn (cơ khí chế tạo, điện - điện tử, chế biến lương thực thực phẩm) và theo các hình thức sở hữu (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài FDI). Nghiên cứu lựa chọn phối hợp phương pháp hệ thống, phương pháp tổng hợp phân tích tài liệu và phương pháp thống kê mô tả vì các công cụ này cho phép lượng hóa chính xác tỷ lệ bảo hộ sáng chế, đo lường dung lượng cung cầu thực tế và đánh giá khách quan độ trễ của các chính sách công đã ban hành.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cán cân cung - cầu công nghệ nội địa rơi vào trạng thái mất cân đối nghiêm trọng. Khoảng 70% công nghệ đang được các doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh sử dụng là công nghệ nhập khẩu, trong đó có tới 90% thuộc trình độ trung bình và lạc hậu. Về năng lực đầu tư thiết bị, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh dẫn đầu với tỷ lệ nhập khẩu máy móc đạt 25,3%, trong khi doanh nghiệp nhà nước đạt mức 16,3%.

Thứ hai, kết quả tạo lập và thương mại hóa tài sản trí tuệ trong nước còn rất thấp so với quy mô kinh tế thành phố. Thống kê từ năm 2014 đến hết quý II năm 2017 cho thấy:

  • Sáng chế: Ghi nhận 491 đơn đăng ký nhưng chỉ có 52 văn bằng bảo hộ được cấp, đạt tỷ lệ thẩm định thành công 10,6%.
  • Giải pháp hữu ích: Có 256 đơn nộp với 90 văn bằng bảo hộ được cấp chính thức, đạt tỷ lệ 35,2%.
  • Trung bình mỗi năm thành phố chỉ tiếp nhận khoảng 219 đơn đăng ký và cấp được vỏn vẹn 38 văn bằng bảo hộ cho cả hai đối tượng này.

Thứ ba, mức độ sẵn sàng đầu tư tài chính cho đổi mới công nghệ của doanh nghiệp nội địa rất hạn chế. Chi phí dành cho nghiên cứu và đổi mới công nghệ chỉ chiếm khoảng 0,2% đến 0,3% doanh thu, tạo ra khoảng cách quá xa khi so sánh với mức 5% của các doanh nghiệp Ấn Độ và 10% của các doanh nghiệp Hàn Quốc. Đến thời điểm khảo sát, toàn thành phố mới có 106 doanh nghiệp trích lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ.

Thứ tư, nguồn lực công phân bổ cho lĩnh vực khoa học công nghệ chưa đạt yêu cầu chiến lược khi mức đầu tư toàn quốc chỉ tương đương khoảng 0,6% GDP và dưới 2% tổng chi ngân sách nhà nước, thấp hơn nhiều so với mức trung bình trên 2% GDP của các quốc gia thuộc khối OECD.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các hạn chế trên xuất phát từ sự chậm trễ trong việc cụ thể hóa các chính sách ưu đãi về thuế, giao quyền sở hữu kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước và thiếu hụt các tổ chức định giá độc lập. Tình trạng bất cân xứng thông tin khiến bên mua không thể kiểm chứng chất lượng công nghệ trong nước, buộc họ phải tìm đến các nhà cung ứng ngoại nhập. Khi đối chiếu với các địa phương điển hình như Hải Phòng (hỗ trợ 50% chi phí tư vấn lập hợp đồng chuyển giao công nghệ) hay Quảng Ninh (hỗ trợ trực tiếp từ 30 đến 45 triệu đồng cho mỗi văn bằng bảo hộ sở hữu trí tuệ), Thành phố Hồ Chí Minh còn thiếu các gói kích cầu tài chính đủ mạnh.

Về phương diện trực quan hóa dữ liệu, các phát hiện nghiên cứu trên có thể được trình bày sinh động qua biểu đồ cột chồng thể hiện cơ cấu nhập khẩu công nghệ theo từng ngành sản xuất, kết hợp cùng bảng thống kê so sánh tỷ lệ cấp văn bằng sáng chế theo các năm từ 2014 đến 2017. Sự phản ánh trực quan này nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết phải sớm đưa Sàn giao dịch Công nghệ Quốc gia diện tích hơn 1.000m2 sàn đi vào vận hành thực tế để làm cầu nối xóa bỏ khoảng cách cung cầu.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm thúc đẩy tốc độ tăng trưởng giao dịch trên thị trường công nghệ đạt mức 15% đến 20% mỗi năm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và cơ chế tài chính quản lý công. Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cần ban hành hướng dẫn chi tiết về cơ chế định giá kết quả nghiên cứu có nguồn gốc ngân sách, cho phép cá nhân và viện nghiên cứu góp vốn vào doanh nghiệp bằng quyền sở hữu trí tuệ; đồng thời thực hiện chính sách hỗ trợ tối đa 50% chi phí tư vấn lập hợp đồng chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong giai đoạn 2018 - 2020.

Thứ hai, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật và phát triển tổ chức trung gian. Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì đưa Sàn giao dịch Công nghệ Quốc gia tại số 1196 đường 3/2 quận 11 với diện tích hơn 1.000m2 sàn đi vào hoạt động chính thức trước năm 2019, kết nối liên thông dữ liệu với hệ thống Techmart trực tuyến và học tập kinh nghiệm quản trị từ Sàn giao dịch Thượng Hải.

Thứ ba, kích thích nguồn cầu và hỗ trợ ươm tạo doanh nghiệp. Triển khai sâu rộng Đề án hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia theo Quyết định số 844 của Thủ tướng Chính phủ, đặt mục tiêu nâng tổng số doanh nghiệp có Quỹ phát triển khoa học và công nghệ từ 106 đơn vị hiện nay lên hơn 500 doanh nghiệp vào năm 2025.

Thứ tư, bảo đảm nguồn lực tài chính công và xã hội hóa đầu tư. Thành phố cần duy trì mức chi ngân sách cho khoa học và công nghệ đạt tối thiểu 2% tổng chi ngân sách địa phương hàng năm, đồng thời hỗ trợ tài chính từ 30% đến 50% tổng kinh phí cho các dự án sản xuất thử nghiệm ứng dụng công nghệ mới của doanh nghiệp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách thuộc Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Kế hoạch và Đầu tư: Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để rà soát quy định pháp lý, xây dựng các gói tài trợ đổi mới công nghệ và hoàn thiện cơ chế đặt hàng nhiệm vụ khoa học công nghệ từ ngân sách.

Thứ hai, lãnh đạo doanh nghiệp sản xuất và giám đốc nghiên cứu phát triển: Công trình giúp doanh nghiệp nắm bắt hành lang pháp lý, quy trình trích lập Quỹ phát triển khoa học công nghệ nội bộ từ 106 điển hình thực tế và cách thức khai thác hỗ trợ chi phí tại các kỳ Techmart, Techdemo.

Thứ ba, các tổ chức trung gian, vườn ươm khởi nghiệp và trung tâm tư vấn chuyển giao công nghệ: Cung cấp phương pháp định giá tài sản trí tuệ, mô hình quản lý sàn giao dịch và bài học kinh nghiệm từ hơn 50 cơ sở ươm tạo công nghệ trên cả nước.

Thứ tư, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý công, Kinh tế phát triển: Là nguồn tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp khảo sát thực trạng công nghệ, kỹ thuật phân tích chính sách công và cơ sở lý luận quản trị thị trường.

Câu hỏi thường gặp

Doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh gặp phải rào cản lớn nhất nào khi đổi mới công nghệ? Rào cản lớn nhất là thiếu hụt nguồn vốn đầu tư khi mức chi cho công nghệ chỉ chiếm 0,2% đến 0,3% doanh thu. Thêm vào đó, việc thiếu các tổ chức định giá chuyên nghiệp và 70% công nghệ trên thị trường là hàng nhập khẩu khiến doanh nghiệp gặp nhiều rủi ro khi đàm phán hợp đồng chuyển giao.

Sàn giao dịch Công nghệ Quốc gia tại Thành phố Hồ Chí Minh có quy mô và vai trò gì? Sàn giao dịch tọa lạc tại số 1196 đường 3/2 với diện tích xây dựng trên 1.000m2 sàn. Công trình giữ vai trò trung tâm đầu mối tổ chức các hoạt động giới thiệu, môi giới, tư vấn pháp lý, định giá tài sản trí tuệ và kết nối trực tiếp cung cầu công nghệ trong nước với quốc tế.

Thực trạng cấp văn bằng bảo hộ sáng chế tại thành phố phản ánh điều gì? Giai đoạn 2014 đến quý II năm 2017 chỉ có 52 văn bằng sáng chế được cấp trên tổng số 491 đơn nộp, đạt tỷ lệ 10,6%. Con số này phản ánh năng lực nghiên cứu ứng dụng còn phân tán, hàm lượng sáng tạo chưa cao và thủ tục thẩm định sở hữu công nghiệp còn kéo dài.

Việc trích lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ mang lại lợi ích gì cho doanh nghiệp? Doanh nghiệp được phép trích tối đa 10% thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp hàng năm để lập quỹ. Nguồn kinh phí này giúp doanh nghiệp chủ động vốn đầu tư máy móc, nghiên cứu sản phẩm mới và được hưởng các chính sách ưu đãi thuế của Nhà nước.

Thành phố Hồ Chí Minh có thể áp dụng kinh nghiệm chính sách nào từ Hải Phòng và Quảng Ninh? Thành phố có thể học tập Hải Phòng cơ chế trích ngân sách hỗ trợ 50% chi phí tư vấn lập hợp đồng chuyển giao công nghệ và áp dụng chính sách của Quảng Ninh trong việc thưởng tiền mặt trực tiếp từ 30 đến 45 triệu đồng cho các sáng chế, giải pháp hữu ích được cấp bằng bảo hộ.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về 4 thành tố công nghệ và 5 yếu tố cấu thành thị trường khoa học công nghệ trong nền kinh tế thị trường.
  • Phân tích chi tiết dữ liệu thực chứng giai đoạn 2011 - 2017, chỉ rõ thực trạng 70% công nghệ tại Thành phố Hồ Chí Minh là nhập khẩu và mức đầu tư cho nghiên cứu của doanh nghiệp chỉ đạt 0,2% đến 0,3% doanh thu.
  • Nhận diện các điểm nghẽn thể chế quản lý công, sự thiếu hụt các tổ chức định giá độc lập và tỷ lệ cấp bằng sáng chế mới dừng lại ở mức 10,6%.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp khả thi gắn liền với việc vận hành Sàn giao dịch Công nghệ Quốc gia diện tích hơn 1.000m2 sàn và mục tiêu nâng số doanh nghiệp có quỹ công nghệ lên hơn 500 đơn vị.
  • Khẳng định lộ trình phân bổ ngân sách đạt tối thiểu 2% nhằm đưa thị trường khoa học công nghệ thành động lực then chốt đến năm 2025.

Đóng góp quan trọng nhất của công trình nghiên cứu là cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc giúp các cơ quan quản lý nhà nước hoàn thiện chính sách công. Các nhà quản trị, chuyên gia và lãnh đạo doanh nghiệp hãy tham khảo sâu rộng luận văn này để xây dựng chiến lược đổi mới công nghệ phù hợp, tối ưu hóa nguồn lực và bứt phá mạnh mẽ trong kỷ nguyên kinh tế số.