Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Nhóm các công trình bàn về những vấn đề lý luận cách mạng khoa học và công nghệ và công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1. Nhóm các công trình bàn về những vấn đề lý luận cách mạng khoa học và công nghệ * Những nghiên cứu nước ngoài - Bàn về khoa học nói chung, các tác giả Helga Nowotny, Peter Scott và Michael Gibbos qua công trình “Tư duy lại khoa học – tri thức và công chúng trong thế kỷ bất định” [52] cho rằng, càng đi sâu vào các lĩnh vực ứng dụng thì thực tế xã hội càng bộc lộ rõ nhiều thuộc tính phức tạp và bất định mà dựa trên các giả thuyết tất định và quy giản (“khoa học Phương thức 1”) không còn đủ khả năng để lý giải được. Xã hội với tất cả những phức tạp và bất định (hay không chắc chắn) của nó đòi hỏi phải được nhận thức bởi một “khoa học khác”, một “Khoa học Phương thức 2”.
Trong tiến trình phát triển một khoa học Phương thức 2 như vậy, mối quan hệ một chiều “khoa học nói với xã hội” phải được thay thế, hay được bổ sung bởi chiều ngược lại “xã hội đối đáp lại khoa học”. Với logic phân tích như vậy, các tác giả trong công trình này đã chỉ ra hàng loạt vấn đề cần được “tư duy lại” về khoa học, về nội dung của bản thân khoa học, cũng như về tác động của khoa học với tư cách là một cơ cấu sản xuất tri thức của con người và về quan hệ giữa khoa học với xã hội trong điều kiện mới. Đó là một xã hội của những phức tạp và hỗn độn, của các tương tác bất định và phi tuyến, của những trật tự dễ bị xói mòn và sụp đổ, và cả của những sụp đổ lòng tin vào quyết định luận và khả năng tiên đoán của con người, v.v… Những vấn đề mà các tác giả nêu ra phần lớn là các vấn đề mới, do đó những kiến giải của các tác giả dù chứa đựng nhiều ý tưởng “tư duy lại” khá sâu sắc nhưng cũng có nhiều luận điểm cần thêm thời gian để nhận thức và thực tiễn xã hội thẩm định. -Về cuộc cách mạng khoa học và công nghệ nói chung, A.
Radaev, hai nhà khoa học Liên Xô trong công trình “Tìm hiểu về cách mạng khoa học - kỹ thuật” [1] đã đề cập tới nhiều vấn đề như thực chất, đặc điểm cơ bản, 6 n nội dung, xu hướng phát triển chủ yếu của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật, tính hiệu quả của sản xuất trong điều kiện cách mạng khoa học kỹ thuật ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp…trong công trình này, các tác giả cũng đã bước đầu chỉ ra sự liên hệ mật thiết giữa sự phát triển khoa học – kỹ thuật với các quá trình kinh tế - xã hội. - Công trình “Cấu trúc của các cuộc cách mạng khoa học” [78] của tác giả Thomas S. Kuhn đúng như tên gọi của nó, tác giả đã phân tích cấu trúc của các cuộc cách mạng khoa học, cấu trúc các cộng đồng khoa học, sự phát triển của khoa học từ đó tác giả bàn sâu vấn đề trên các khía cạnh như: Khoa học tiến bộ như thế nào, phải chăng chúng ta đang sống trong thời đại phát triển rực rỡ của khoa học? Công nghệ liệu có thể vẫn tồn tại và phát triển mà không cần khoa học? Có thể thấy, với công trình này, Kuhn đã “phác họa một khái niệm hoàn toàn khác về khoa học cái có thể nổi lên từ tư liệu lịch sử của bản thân hoạt động nghiên cứu”; công trình đã bác bỏ quan niệm vốn có về sự phát triển của khoa học theo cách tích lũy đồng thời làm rõ bản chất của khái niệm “cách mạng khoa học” mà những cách hiểu trước đó chưa thể xem là thích hợp. Tác giả đã đưa ra một hình ảnh rõ ràng và đơn giản về sự phát triển của khoa học.
Một “khuôn mẫu” (một cấu trúc cơ bản ổn định nảy sinh từ một khám phá được chấp nhận bởi cộng đồng khoa học) xuất hiện rồi bị thay thế bởi một khuôn mẫu mới do trong quá trình nghiên cứu theo khuôn mẫu cũ đã xuất hiện những dị thường ngày càng phát triển sâu rộng dẫn đến khủng hoảng không thể khắc phục được, trong thời kỳ phát triển bình thường, khuôn mẫu định hướng và thúc đẩy toàn bộ sự phát triển của khoa học – “khoa học chuẩn”; cách mạng khoa học chính là sự thay thế khuôn mẫu cũ bằng khuôn mẫu mới. Tuy nhiên qua lập luận của mình, dường như Kuhn đã gán cho khoa học quá nhiều màu sắc chủ quan và phi duy lý, vì vậy có nhiều luận điểm cho đến nay vẫn gây ra khá nhiều tranh cãi gay gắt. - Tác giả Jeremy Rifkin trong công trình “Cuộc cách mạng công nghiệp lần III” [70] đã chỉ ra với hai cuộc cách mạng công nghiệp thứ I và thứ II con người đã giàu có hơn. Tuy nhiên con người đã phải trả giá đắt cho sự giàu có của mình.
Đó là hiểm họa cạn kiệt nhiên liệu và những biến đổi tiêu cực của môi trường và hệ sinh 7 n thái do hậu quả của việc sử dụng quá mức các nguyên liệu hóa thạch. Vì vậy, con người buộc phải có cuộc cách mạng công nghiệp khác, đó là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ III mà mục tiêu chính là cuộc hành trình tìm các nguồn năng lượng tái tạo hay còn gọi là năng lượng xanh. Chính sự phát triển của công nghệ thông tin trên nền tảng internet và các nguồn năng lượng tái tạo đã tạo đà cho cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ III. Theo Jeremy Rifkin, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ III sẽ bao gồm 5 trụ cột sau: (1) Sự chuyển dịch từ năng lượng truyền thống sang năng lượng tái tạo, (2) Chuyển hóa các công trình xây dựng ở các lục địa thành các nhà máy điện mini để thu gom năng lượng tái tạo tại chỗ, (3) Áp dụng công nghệ Hydro và các công nghệ lưu trữ khác trong mọi công trình để lưu trữ năng lượng gián đoạn, (4) Sử dụng công nghệ Internet để chuyển đổi lưới điện của tất cả các lục địa thành một liên mạng lưới toàn cầu chia sẻ năng lượng hoạt động giống như Internet khi tạo ra hàng triệu tòa nhà mà tại đó có thể tạo ra những nguồn năng lượng nhỏ tại chỗ.
Chúng có thể bán phần năng lượng thặng dư trở lại lưới điện và chia sẻ với láng giềng, và cuối cùng là, (5) Chuyển các phương tiện giao thông truyền thống sang các phương tiện chạy bằng điện và pin nhiên liệu. Khi đó, từng cá thể có thể mua bán điện thông qua một lưới điện thông minh ở cấp châu lục. Năm trụ cột này sẽ tạo ra hàng ngàn công việc kinh doanh và hàng triệu việc làm mới và đây sẽ là cơ sở để tái lập lại nền tảng các mối quan hệ giữa con người với con người. Như vậy cuộc cách mạng công nghiệp lần III sẽ có ảnh hưởng sâu sắc đến thế kỷ XXI.
Nó làm thay đổi căn bản cách sống và làm việc của con người. Cách tổ chức phân cấp của xã hội truyền thống sẽ nhường chỗ cho mối quan hệ hợp tác chia sẻ trong thời đại công nghiệp xanh. - Bàn về cách mạng khoa học và công nghệ ở khía cạnh tác động của nó phải kể đến các công trình của Alvin Toffler trong đó đặc biệt là công trình “Đợt sóng thứ ba” [136]. Trong công trình này tác giả đã miêu tả, phân tích, nhận định về xã hội loài người trong khung cảnh những thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ đã khiến xã hội thay đổi đến mức kỳ lạ, làm đảo lộn lối sống, cách nghĩ của con người và rút ra những đặc điểm của thời đại mà chúng ta đang sống.
Tác giả 8 n cho rằng “Nhân loại đang đứng trước một bước nhảy vọt. Nó đang đứng trước một cuộc nổi dậy sâu sắc nhất của xã hội và một công cuộc cấu trúc hóa lại mọi thời đại một cách sáng tạo” [136, tr. “Công nghệ và truyền thông tổ chức lại các thị trường thế giới, làm cho sản xuất xuyên quốc gia trở thành có thể và cần thiết” [136, tr. Những phân tích, khái quát của tác giả gợi mở nhiều vấn đề đặc biệt tác động làm thay đổi xã hội của cách mạng khoa học và công nghệ, giúp chúng tôi có thêm cơ sở vững chắc để đánh giá tác động của cách mạng khoa học và công nghệ nói chung qua đó vận dụng xem xét tác động của cách mạng khoa học và công nghệ đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Viêt Nam hiện nay.
- Công trình Thế giới phẳng – Tóm lược lịch sử thế giới thế kỷ XX [125] của Thomas L. Friedman đã khẳng định một vấn đề quan trọng, toàn cầu hóa là một hiện tượng khách quan, phổ biến, không thể cưỡng lại của tất cả các quốc gia dân tộc. Theo tác giả, có 10 nhân tố làm “phẳng thế giới”, trong đó 9/10 yếu tố làm “phẳng” thế giới được ông liệt kê suy cho cùng đều là kết quả của việc ứng dụng các thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ. Friedman cho thấy tác động quan trọng của cách mạng khoa học và công nghệ trong sự biến chuyển của thế giới ngày nay.
Bên cạnh đó Thomas L. Friedman còn xuất bản nhiều công trình nổi tiếng khác, Từ Beirut đến Jerusalem – 1989, Chiếc lexus và cây Ô liu – Toàn cầu hóa là gì? [124], gần đây nhất là cuốn Cảm ơn vì đến trễ [123]. Trong cuốn sách này, Thomas L. Friedman cho rằng nhân loại đang trải qua một trong những “điểm uốn” lớn nhất trong lịch sử, trong đó khẳng định một trong ba “lực lượng mạnh mẽ nhất trên hành tinh” là công nghệ.
Kết quả là, “rất nhiều khía cạnh của xã hội, nơi làm việc và quan hệ địa chính trị của chúng ta đang được tái định hình và cần phải hình dung lại”. - Cùng với những công trình nêu trên, trong điều kiện hiện nay, với tư cách là sự mở rộng, chuyển tiếp của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, nhiều công trình nghiên cứu về cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã được công bố. Tiêu biểu là các công trình giáo sư Klaus Schwab – người sáng lập và chủ tịch điều hành Diễn đàn Kinh tế thế giới: Cách mạng công nghiệp lần thứ tư [76], Định hình cuộc cách 9 n mạng công nghiệp lần thứ tư [77]. Có thể nói đây là những công trình đặt nền tảng cho quan niệm về cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.