Chương 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực cho người lao động trong tổ chức. Chương 2: Thực trạng tạo động lực cho người lao động tại Trường trung cấp nghề kỹ thuật và nghiệp vụ xây dựng Hà Nội Chương 3: Giải pháp tăng cường tạo động lực cho người lao động tại Trường trung cấp nghề kỹ thuật và nghiệp vụ xây dựng Hà Nội 6 Chương1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰCCHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG TỔ CHỨC 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Động lực Động lực là một thuật ngữ được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Trong kinh tế động lực được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau: Theo từ điển tiếng việt : Động lực được hiểu là cái thúc đẩy, làm cho phát triển. Động lực là tất cả những gì nhằm thôi thúc, khuyến khích động viên con người thực hiện những hành vi theo mục tiêu. Theo cách hiểu này thì: Động lực là khao khát và tự nguyện của con người để nâng cao mọi nỗ lực của mình nhằm đạt được mục tiêu hay kết quả cụ thể nào đó.1] Hoạt động của con người là hoạt động có mục đích. Vì vậy các nhà quản lý luôn tìm cách để trả lời câu hỏi là: Tại sao người cho người lao động lại phải làm việc? Cùng một con người nhưng có lúc làm việc tích cực nhưng có lúc lại trở nên bất mãn, lười biếng? Để con người tích cực làm việc và làm việc tích cực thì nhà quản trị cần phải làm gì? Và làm như thế nào?.
đây là những câu hỏi mà từ lâu được các tổ chức, các nhà quản trị, giới nghiên cứu và các nhà kinh tế trăn trở tìm lời giải đáp. Tiếc là các vấn đề này cho tới nay vẫn chưa có được câu trả lời thỏa đáng. Nhưng một điều rễ nhận thấy là; con người phải làm việc để tạo ra của cải đáp ứng nhu cầu của cuộc sống và bảo đảm cho họ có thể tồn tại và phát triển? Mong muốn được đáp ứng càng nhiều thì con người càng phải tích cực làm việc để tạo ra nhiều của cải vật chất để đáp ứng cho những mong muốn đó. Chính vì những khát vọng, mong muốn của con người đã buộc họ phải làm việc và đây cũng là động lực thúc đẩy họ làm việc và làm việc không ngừng nghỉ.
Như vậy, giữa hoạt động cho người lao động của con người với nhu cầu của họ có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ với nhau tạo nên một chuỗi liên kết bắt đầu từ chính nhu cầu cuộc sống của họ: Nhu cầu – động cơ – lợi ích và động lực [10;tr. Do đó, động lực xuất phát từ bản thân của mỗi con người. Nói chính xác hơn là nó xuất phát từ chính những nhu cầu, những khát vọng, mong muốn mà con người còn thiếu thốn muốn có và được đáp ứng trong cuộc sống thường ngày. Những nhu cầu này rất đa dạng và phong phú, nó luôn có ở bất kỳ con người nào khi tồn tại và không bao giờ có giới hạn.
Nhu cầu có thể tồn tại ở dạng vật chất hay dạng tinh thần, mà một khi con người 7 muốn có được phải phấn đấu, tích cực vươn lên mới có thể được. Những nhu cầu này một khi đã được đáp ứng và thỏa mãn sẽ làm cho con người trở nên phấn khích và hưng phấn. Chính vì lẽ này mà người quản lý đã sử dụng những lợi ích, hay cái có thực để thỏa mãn, kích thích con người cho người lao động hay tạo ra động lực cho người lao động [10;tr. Động lực cho người lao động Bất kỳ một tổ chức nào cũng mong muốn người cho người lao động của mình tự giác, hăng hái, mang hết nỗ lực hoàn thành công việc với hiệu quả cao để góp phần thực hiện thành công các mục tiêu của tổ chức.
Tuy nhiên, trong tập thể cho người lao động luôn có những người cho người lao động làm việc hăng say nhiệt tình, có kết quả thực hiện công việc cao nhưng cũng có những người cho người lao động làm việc trong trạng thái ể oải, làm việc cầm chừng, thiếu hứng thú, thiếu trách nhiệm với công việc, thậm chí bất mãn, bỏ việc, kết quả thực hiện công việc thấp. Tất cả những biểu hiện trên có liên quan đến động lực cho người lao động của từng cá nhân cụ thể. Vậy động lực cho người lao động là gì? Nó được hình thành từ đâu? Qua các kết quả nghiên cứu, đều có chung quan niệm: Động lực cho người lao động là những nhân tố bên trong kích thích bản thân mỗi cá nhân nỗ lực làm việc với sự khao khát và tự nguyện để đạt được các mục tiêu của bản thân và tổ chức. Trong thực tế, người ta chia động lực làm hai loại là động lực bên trong và động lực bên ngoài [10;tr.
Động lực bên trong: Xuất phát để thỏa mãn nhu cầu bên trong của từng cá nhân con người và của gia đình họ. Để tạo và gia tăng động lực này, người quản trị phải đi sâu tìm hiểu, nắm bắt được nhu cầu, ước muốn riêng của cá nhân nhân viên và gia đình họ, biết cách tác động để gia tăng nhu cầu của nhân viên. Động lực bên ngoài: Liên quan đến các yếu tố tác động bên ngoài đối với nhân viên nhằm mức độ thỏa mãn về quyền lợi hay khả năng đáp ứng nhu cầu của nhà quản trị và doanh nghiệp. Chủ yếu là các chế độ về lương bổng, đãi ngộ kể cả công việc, điều kiện làm việc, môi trường doanh nghiệp, cách đối xử từ phía nhà quản trị…vv.
Trong đó bao gồm các yếu tố thỏa mãn trong công việc hay xuất phát thực tế công việc như: Được làm công việc hợp khả năng, sở trường, mong muốn, ý thích, hoàn cảnh cá nhân. 8 Công việc hấp dẫn, độc đáo, hữu ích, có tầm quan trọng, được nhiều người chú ý, tôn trọng, ngưỡng mộ. Được cấp trên tin tưởng, trọng dụng, có điều kiện phát triển. Trong quản lý người ta rất quan tâm tạo và gia tăng hứng thú trong quá trình làm việc.
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng: Con người làm việc trong trạng thái hứng thú sẽ hình thành động lực tích cực, giảm thiểu mệt mỏi, làm năng suất, chất lượng, hiệu quả công việc, dễ nảy sinh sáng kiến, sáng tạo và con người cảm thấy thoải mái sau khi làm việc. Tạo động lực cho người lao động Tạo động lực cho người lao động là những kích thích nhằm thôi thúc, khuyến khích, động viên con người thực hiện những hành vi theo mục tiêu. Bản chất của động lực xuất phát từ nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu của con người. Giữa nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu có một khoảng cách nhất định và khoảng cách đó luôn có xu hướng thu hẹp và rút ngắn thông qua sự nỗ lực phấn đấu của từng cá nhân để có được kết quả thành tích công việc theo mong muốn từ đó được bù đắp những thù lao thỏa đáng từ tổ chức.
Nhu cầu gồm nhiều loại khác nhau tùy vào từng cách phân chia mà ta có: nhu cầu vật chất, nhu cầ tinh thần, nhu cầu trước mắt và nhu cầu lâu dài,… Sự thỏa mãn nhu cầu được hiểu là sự đáp ứng nhu cầu đến một mức độ nào đó. Khi một nhu cầu được thỏa mãn về cơ bản nó sẽ dần mất đi và nhu cầu mới lại xuất hiện. Con người không bao giờ hết nhu cầu, sự thỏa mãn nhu cầu có ảnh hưởng tích cực đến động lực của mỗi người. Tạo động lực cho người lao động là những hoạt động có tính chất khuyến khích động viên nhằm tác động vào nhu cầu của người cho người lao động để tạo nên sự chuyển biến trong hành vi của họ hướng theo những mục tiêu mà tổ chức mong muốn.
Tạo động lực là quá trình làm nảy sinh động lực trong mỗi cá nhân người cho người lao động. Do đó tạo động lực được hiểu là sự vận dụng các chính sách, biện pháp, các công cụ quản lí thích hợp tác động đến người cho người lao động nhằm làm cho người cho người lao động xuất hiện động lực trong quá trình làm việc từ đó thúc đẩy họ hài lòng với công việc, mong muốn và nỗ lực làm việc hơn nữa để đóng góp cho tổ chức. 9 Vậy tạo động lực cho người lao động cho người cho người lao động được hiểu là “tất cả các biện pháp của nhà quản trị áp dụng tác động tới người cho người lao động nhằm tạo ra động cơ cho người lao động thúc đẩy tính tích cực, tự giác cho người lao động của họ” [10;tr. Việc tác động này có thể qua nhiều biện pháp, nhưng chung quy có thể khái quát thông qua việc kích thích (vật chất và tinh thần) để tạo ra sự hưng phấn, tích cực và tự giác cho người lao động đối với người cho người lao động.
Tạo động lực cho người lao động là quá trình phức tạp, xét dưới góc độ quản lý thì đó là những tác động của nhà quản lý làm nảy sinh động lực trong cá nhân người cho người lao động (các đối tượng quản lí). Trong lịch sử đã diễn ra hai loại tác động: Một là, cưỡng bức người cho người lao động thông qua các biện pháp siêu kinh tế và cưỡng bức kinh tế. Các biện pháp này diễn ra trong các chế độ tư hữu, rõ rệt nhất là thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản. Ngày nay, những biện pháp này bị cấm và không được khuyến khích.
Hai là, kích thích người cho người lao động thông qua các biện pháp khuyến khích vật chất và tinh thần đối với người cho người lao động để tạo ra động lực làm việc. Loại tác động thứ hai này ngày nay được áp dụng rộng rãi trong các tổ chức, doanh nghiệp. Nó vừa có ý nghĩa kinh tế, đồng thời, mang tính nhân văn trong quá trình quản lý, sử dụng nhân lực. Thực hiện công tác tạo động lực tốt sẽ làm dịu đi những căng thẳng không cần thiết, tăng cường sự hấp dẫn của tiền lương, tiền thưởng…Người cho người lao động hăng hái làm việc, gắn bó với tổ chức, sẵn sàng cống hiến hết mình vì tổ chức.
Một số thuyết liên quan đến tạo động lực cho người lao động 1. Học thuyết nhu cầu của Maslow Theo nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow (1908-1970), nhu cầu của con người gồm 5 cấp bậc, phù hợp với sự phân cấp từ nhu cầu thấp nhất đến nhu cầu cao nhất.Maslow quan niệm rằng khi nhu cầu này chưa được thỏa mãn tới mức độ cần thiết để có thể duy trì cuộc sống thì nhu cầu khác sẽ không thúc đẩy được con người làm việc.