CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH CƠ SỞ HẠ TẦNG 1. Khái quát về công trình cơ sở hạ tầng 1. Khái niệm về công trình cơ sở hạ tầng Cơ sở hạ tầng là tổ hợp các công trình vật chất kỹ thuật có chức năng phục vụ trực tiếp dịch vụ sản xuất đã sống của dân cư, được bố trí trên một phạm vi lãnh thổ nhất định. Khi lực lượng sản xuất chưa phát triển quá trình tiến hành các hoạt động chỉ là sự kết hợp giản đơn giữa 3 yếu tố đó là lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động chưa có sự tham gia của cơ sở hạ tầng.
Nhưng khi lực lượng sản xuất đã phát triển đến trình độ cao thì để sản xuất có hiệu quả cần có sự tham gia của cơ sở hạ tầng. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật được phát triển mạnh mẽ gắn liền với cuộc cách mạng công nghiệp từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19. Bên cạnh đó, chính vì sự phát triển mạnh mẽ của cơ sở hạ tầng kỹ thuật mà nó thúc đẩy sự phát triển của cơ sở hạ tầng xã hội từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20. Hiện nay, chúng ta đang tiến hành phát triển cơ sở hạ tầng ở giai đoạn 3.
Giai đoạn vừa phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật vừa phát triển cơ sở hạ tầng xã hội. Như vậy, khi khoa học kỹ thuật ngày càng được nâng cao thì cơ sở hạ tầng càng phát triển. Vai trò của hệ thống công trình cơ sở hạ tầng Cơ sở hạ tầng là lực lượng vật chất nền tảng của đô thị, tất cả các công trình, các hoạt động kinh tế, văn hóa, và đời sống ở đô thị đều tồn tại và phát triển trên nền tảng này. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật với đặc điểm cố định và kinh phí đầu tư lớn còn được coi là bộ xương cứng của đô thị.
Giá trị của cơ sở hạ tầng kỹ thuật chiếm đến ½ tổng giá trị các công trình trong đô thị. Số liệu này được rút ra từ thực tế tái thiết thành phố Dresden của Đức bị bom đạn phá hủy hoàn toàn các công trình trên mặt đất. Nhờ hệ thống hạ tầng kỹ - 12 - thuật (giao thông, thoát nước,.) không bị phá hủy nên kinh phí xây dựng lại thành phố giảm được ½. Sự phát triển đô thị thiếu quy hoạch trước hết là thiếu cơ sở hạ tầng kỹ thuật, thiếu bộ xương của đô thị, sau đó là thiếu cơ sở hạ tầng xã hội, làm cho kinh tế không phát triển, đời sống khó khăn.
Quản lý đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đô thị là một trong ba chức năng cơ bản và cũng là một trong bốn giải pháp hàng đầu của chính quyền đô thị. Phân loại công trình cơ sở hạ tầng Căn cứ vào chức năng, tính chất và đặc điểm người ta chia các công trình cơ sở hạ tầng thành 3 loại: - Cơ sở hạ tầng kỹ thuật, - Cơ sở hạ tầng xã hội, - Cơ sở hạ tầng môi trường. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật là các công trình phục vụ cho sản xuất và đời sống bao gồm: các công trình thiết bị chuyển tải và cung cấp năng lượng, mạng lưới giao thông, cấp thoát nước, thông tin liên lạc. Cơ sở hạ tầng xã hội bao gồm các cồn trình phục vụ cho các địa điểm dân cư như nhà văn hoá, bệnh viện, trường học, nhà ở và các hoạt động dịch vụ công cộng khác.
Các công trình này thường gắn với các địa điểm dân cư làm cơ sở góp phần ổn định, nâng cao đời sống dân cư trên vùng lãnh thổ. Cơ sở hạ tầng môi trường là toàn bộ hệ thống vật chất kỹ thuật phục vụ cho việc bảo về, giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước và môi trường sống của con người. Hệ thống này bao gồm các công trình phòng chống thiên tai, các công trình bảo vệ đất đai, vùng biển và các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Tình hình quản lý chất lượng công trình cơ sở hạ tầng ở nước ta 1.
Tình hình đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng ở TP lớn - 13 - Công tác đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tại các thành phố lớn giữ vai trò rất quan trọng nhằm đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội , đảm bảo trang bị kỹ thuật và các mặt hoạt động, sinh hoạt của người dân, cho nên cơ chế quản lý xây dựng của các thành phố lớn dựa trên nền tảng cơ chế quản lý xây dựng của nhà nước Việt nam, tuy nhiên trong quá trình triển khai có một số điểm khác biệt cho phù hợp với tính chất và đặc điểm về tốc độ phát triển của những thành phố này. Trước đây, phần lớn các công trình cơ sở hạ tầng đều được thực hiện với chi phí hoàn toàn do nhà nước bao cấp, nên vấn đề hiệu quả trong quá trình quản lý thực hiện các dự án đầu tư xây dựng chưa được quan tâm thích đáng. Hiện nay, nhà nước đã cho phép một số doanh nghiệp được tham gia phát triển kinh tế, tự hạch toán và hoạt động theo Luật doanh nghiệp như những doanh nghiệp khác, nên vấn đề hiệu quả trong công tác quản lý các dự án đầu tư xây dựng đã được quan tâm hơn, thể hiện là có nhiều Tổng công ty, công ty làm ăn rất hiệu quả như: Vinaconex, Cienco, Licogi. đã quản lý và thực hiện nhiều dự án, công trình hiệu quả và có chất lượng cao.
Nhiều Ban quản lý dự án được thành lập để quản lý và điều hành một cách chuyên nghiệp các dự án. Các dự án đầu tư, sau khi đã có chủ trương đầu tư, đã được đăng ký danh mục đầu tư, chỉ có những dự án nào có quyết định phê duyệt TKKT- DT trước tháng 10 hàng năm mới được ghi vốn đầu tư trong kế hoạch vốn năm sau. Đây là một trong những hạn chế rất lớn ảnh hưởng đến chất lượng cũng như tiến độ triển khai thực hiện dự án đầu tư xây dựng tại các thành phố lớn nói riêng và cả nước nói chung. Với điều kiện “cần” như trên, có nhiều dự án để được ghi vốn thực hiện trong năm sau, đã bỏ qua rất nhiều công đoạn trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư cũng như việc không quan tâm - 14 - đúng mức đến chất lượng của công đoạn này, với mục đích hoàn thành các thủ tục kịp tiến độ để được ghi vốn.
Chính vì vậy, trên thực tế có nhiều dự án đã được ghi vốn nhưng không thể triển khai giải ngân thực hiện do chất lượng quá thấp của giai đoạn chuẩn bị đầu tư, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn, trong khi nhu cầu đầu tư của các đơn vị cơ sở là rất lớn mà nguồn vốn thì đang còn hạn hẹp. Nguyên nhân chính của sự hạn chế này là các bên tham gia quản lý chưa thực sự nghiêm chỉnh chấp hành các trình tự thủ tục cần thiết trong hoạt động đầu tư xây dựng, nếu có cũng chỉ mang tính hình thức, qua loa để những người tham gia quản lý đạt được những mục đích mong muốn cá nhân mà chưa thực sự nghĩ đến lợi ích chung. Tình hình quản lý chất lượng các công trình cơ sở hạ tầng trong thời gian qua 1. Những mặt đã đạt được trong công tác nâng cao chất lượng công trình xây dựng cơ sở hạ tầng Công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng cơ sở hạ tầng đã tiếp cận và hội nhập được với các nước có nền khoa học công nghệ xây dựng và quản lý chất lượng xây dựng phát triển cao trong khu vực và trên thế giới.
Chúng ta đã chủ động áp dụng nhiều công nghệ xây dựng tiên tiến của thế giới, đã đủ khả năng quản lý, xây dựng các công trình hiện đại, có yêu cầu kỹ thuật phức tạp và yêu cầu về chất lượng bằng nội lực của chính mình. Sự tiến bộ trong việc xây dựng và hoàn thiện thể chế về quản lý đầu tư xây dựng đặc biệt trong đó có việc xây dựng và hoàn thiện nhiều văn bản quy phạm pháp luật về quản lý chất lượng công trình xây dựng. Năm 2004, lần đầu tiên, Chính phủ đã ban hành một Nghị định riêng về quản lý chất lượng công trình xây dựng và sau đó đến năm 2013 có Nghị định 15/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013. Có thể nói Nghị định 209/2004/NĐ-CP - 15 - ngày 16/12/2004 và Nghị định 15/2013/NĐ-CP là một bước tiến dài và quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế về quản lý chất lượng công trình xây dựng.
Với Nghị định 15/2013/NĐ-CP mới được ban hành, đã tăng cường hơn về quản lý Nhà nước và bước đầu rõ hơn về nội dung quản lý theo các nguồn vốn khác nhau. Sự tiến bộ trong áp dụng khoa học, công nghệ vào thi công như công nghệ mới về xử lý nền đất yếu bằng phương pháp cố kết chân không, công nghệ thi công cọc ống thép bằng búa rung, bê tông đầm lăn (RCC- Roller Compacted Concrete), công nghệ thi công sàn ứng lực trước… đến nay chúng ta đã xây dựng được nhưng công trình có tầm cỡ lớn. Những bất cập về vấn đề chất lượng công trình cơ sở hạ tầng xây dựng hiện nay Bên cạnh các ưu điểm kể trên phải thừa nhận một thực tế là vẫn còn một số tồn tại về chất lượng công trình. Các bất cập về chất lượng công trình cần được nghiên cứu khắc phục thể hiện thông qua các sự cố, hư hỏng công trình cũng như những khoảng trống về pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật.
Trong giai đoạn tới việc triển khai thực hiện tốt Nghị định 15/2013/NĐ-CP ngày 06 tháng 02 năm 2013 là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành Xây dựng trong việc đảm bảo và nâng cao hơn nữa về chất lượng công trình xây dựng và quản lý chất lượng công trình xây dựng. Đánh giá chung về công tác quản lý chất lượng các công trình cơ sở hạ tầng Công tác quản lý chất lượng các công trình cơ sở hạ tầng phải đảm bảo nhu cầu phát triển và vận hành đồng bộ của hệ thống cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống kỹ thuật. Nhu cầu đồng bộ là một nhu cầu khách quan của sự vật có tính hệ thống, cơ sở hạ tầng lại là các hệ thống lớn và phức tạp. Đô thị - 16 - là một cơ thể sống mà hệ thống cơ sở hạ tầng như là xương thịt và các cơ quan nội tạng của các cơ thể đó.
Đảm bảo đồng bộ trong từng ngành và đảm bảo đồng bộ trong sự phối hợp giữa các ngành.