Chương 1: Cơ s lý luận về phát triển du lịch sinh thái VQG Phú Quốc Chương : Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng hoạt đ ng du lịch sinh thái VQG Phú Quốc Chương 4: Giải pháp phát triển du lịch sinh thái VQG Phú Quốc c 4 Ch ơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI Ở VƯỜN QUỐC GIA 1. Những vấn đề cơ bản về hát triển du lịch sinh thái 1. Các khái niệm về du lịch sinh thái Du lịch sinh thái là loại hình du lịch có xu thế phát triển nhanh chóng trên phạm vi toàn thế giới và ngày càng chiếm được sự quan tâm của nhiều người b i đây là loại hình du lịch thiên nhiên có trách nhiệm, h trợ cho các m c tiêu bảo tồn tự nhiên, môi trường và phát triển c ng đồng. M t trong những định ngh a được coi là sớm về DLST mà đến nay vẫn được nhiều người quan tâm là định ngh a của Hiệp h i DLST Quốc tế (1991): “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch có trách nhiệm đối với các vùng tự nhiên, bảo vệ môi trường và duy trì cuộc sống yên bình của người dân địa phương ” Định ngh a này đề cao trách nhiệm bảo vệ môi trường, giữ gìn, tôn tạo, tránh sự ảnh hư ng tiêu cực đến môi trường tự nhiên, hệ sinh thái, và cả cu c sống của cư dân địa phương.
Theo quỹ bảo tồn đ ng vật hoang dã WWF (1989): "Du lịch sinh thái đề cập tới các hoạt động du lịch đi tới các khu vực thiên nhiên hoang dã, gây tác động tối thiểu tới môi trường tự nhiên và cuộc sống của các loài động thực vật hoang dã trong khi mang lại một số lợi ích kinh tế cho cộng đồng địa phương và những người bản địa phục vụ tại đó". Ở định ngh a này, cũng đề cập đến hoạt đ ng của DLST, đó là các khu vực tự nhiên hoang dã và điều quan trọng là giảm thiểu những tác đ ng tiêu cực đối môi trường tự nhiên, mang lại những lợi ích kinh tế cho c ng cư dân địa phương, những người bản địa làm việc trực tiếp trong ngành du lịch. Theo tổ chức du lịch thế giới - World Tourism Organization (1993): Du lịch sinh thái là loại hình du lịch được thực hiện tại những khu vực tự nhiên còn ít bị can thiệp b i con người, với m c đích để chiêm ngưỡng, học hỏi về các loài đ ng thực vật cư ng trong khu vực đó, giúp giảm thiểu và tránh được các tác đ ng tiêu cực c 5 tới khu vực mà du khách đến thăm. Ngoài ra, du lịch sinh thái phải đóng góp vào công tác bảo tồn những khu vực tự nhiên và phát triển những khu vực c ng đồng lân cận m t cách bền vững đồng thời phải nâng cao được khả năng nhận thức về môi trường và công tác bảo tồn đối với người dân bản địa và du khách đến thăm.
Đây là m t định ngh a tương đối đầy đủ nó phản n i dung hoạt đ ng cũng như những đặc điểm, m c đích của DLST. Đó là loại hình du lịch mang tính giáo d c, nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho các tổ chức, cá nhân trong việc bảo tồn giữ gìn môi trường tự nhiên và môi trường văn hoá để đảm bảo cho sự phát triển bền vững những nơi mà du khách tới thăm quan. Theo Weaver (2001), nhận định có 3 tiêu chí trọng tâm được lặp lại trong hầu hết các định ngh a, đó là: - Dựa vào thiên nhiên - Có tính bền vững - Có yếu tố về giáo d c hay nhận thức. Theo Page và Dowling (2002), đưa thêm yếu tố mà du lịch sinh thái nên có: - Đem lại lợi ích cho c ng đồng - Và sự hài lòng, thỏa mãn cho du khách.
Tại Việt Nam, Tổng c c Du lịch (1999) đã phối hợp với m t số tổ chức quốc tế như ESCAP, WWF, IUCN tổ chức h i thảo quốc gia về: “Xây dựng Chiến lược phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam”. H i thảo đã đưa ra m t định ngh a về Du lịch sinh thái như sau: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp tích cực cho bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”. Luật Du lịch Việt Nam (2005), đã xác định: “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững” (Quốc h i, 005). c 6 Theo quy chế quản lý hoạt đ ng du lịch sinh thái tại các Vườn Quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên ban hành kèm Quyết định số 104/ 007/QĐ-BNN, ngày 7/1 / 007 của B trư ng B Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: “Du lịch sinh thái là hình thức lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng dân cư ở địa phương nhằm phát triển bền vững, đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu du lịch trong tương lai” (B Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2007) Như vậy có thể thấy quan điểm về du lịch sinh thái được thể hiện nhiều dạng khác nhau tùy theo nhận thức, quan điểm các nhà nghiên cứu của các tổ chức và tùy vào điều kiện đặc thù của các Quốc gia, các khu vực địa lý, hành chính khác nhau.
Nơi nào ý thức trách nhiệm đối với thiên nhiên cao hơn thì tiêu chí thiên nhiên hoang sơ được đề cập đến nhiều hơn. Có những nơi ý thức bảo tồn thiên nhiên cũng như yếu tố tiêu chí giáo d c môi trường, sinh thái, tiêu chí về quản lý bền vững được chú trọng nhiều hơn. Nhận định chung: Cách nhìn nhận du lịch sinh thái hiện nay cũng khá m và cho dù có những khác biệt nhất định nhưng đa số các chuyên gia và tổ chức quốc tế đều thống nhất những n i dung cơ bản mà du lịch sinh thái cần phải có, đó là: - Du lịch sinh thái là m t loại hình phát triển du lịch bền vững, được quản lý bền vững; - Là loại hình dựa vào thiên nhiên là chính (đặc biệt là những khu vực còn hoang sơ, được bảo tồn tương đối tốt); - Có h trợ bảo tồn (không làm thay đổi tính toàn v n của hệ sinh thái, nguồn thu được từ hoạt đ ng du lịch sinh thái được đầu tư cho công tác bảo tồn, bảo vệ môi trường ); - Có các hoạt đ ng, hình thức giáo d c về môi trường và sinh thái; - Có sự tham gia chia sẻ lợi ích c ng đồng (khuyến khích sự tham gia c ng đồng trong các hoạt đ ng và dịch v cho du lịch sinh thái như hướng dẫn viên địa c 7 phương, kinh doanh lưu trú, ăn uống, tạo các sản phẩm bổ trợ khác ). Quan điểm trên có thể làm cơ s để đối sánh những hoạt đ ng du lịch đang di n ra hiện nay tại Việt Nam, đồng thời có thể định hướng giúp các nhà hoạch định chiến lược phát triển du lịch sinh thái của nước ta, từ đó có thể vạch ra những chiến lược, kế hoạch khai thác và phát triển Du lịch sinh thái Việt Nam.
Trên thực tế Việt Nam, quan điểm về Du lịch sinh thái cũng có những yếu tố chưa được hiểu m t cách thống nhất giữa những người làm du lịch và các bên liên quan. Nếu hiểu du lịch sinh thái đúng như thực chất là phải có đóng góp cho sự phát triển của c ng đồng địa phương m t cách trực tiếp bằng các lợi ích tài chính c thể như việc làm và tiền lương nhân công, trích nguồn thu tái đầu tư cho phúc lợi xã h i của c ng đồng địa phương, bù đắp cho công tác bảo vệ môi trường sinh thái tại ch và như vậy thì hoạt đ ng du lịch sinh thái hiện nay chưa được triển khai theo đúng ngh a của nó tại nhiều khu vực. Tuy nhiên, có m t yếu tố mà tất cả mọi người đều công nhận, đó là chỉ hoạt đ ng du lịch dựa vào thiên nhiên mới được xem là hoạt đ ng du lịch sinh thái. Chính vì yếu tố này nên hoạt đ ng du lịch sinh thái lại có thể phân loại theo tính chất của các tài nguyên đặc trưng nhất nơi nó di n ra tại các vùng núi có đ cao trên 800m, du lịch sinh thái biển đảo được di n ra tại các vùng ven biển, hải đảo và Việt Nam hiện nay, bên cạnh các hệ sinh thái tự nhiên, các hệ sinh thái theo từng kiểu tài nguyên du lịch sinh thái đặc trưng như: du lịch biển, du lịch núi và hang đ ng, du lịch rừng sinh thái thiên nhiên, du lịch thăm bản làng dân t c,du lịch thôn quê, du lịch gắn với chữa bệnh.2 Các đặc tr ng của du lịch sinh thái Theo tổ chức du lịch thế giới - World Tourism Organization (1993) đề ra các đặc trưng sau đây của du lịch sinh thái: Tài nguyên tự nhiên trong du lịch sinh thái là những tài nguyên còn tương đối nguyên sơ.
Môi trường tự nhiên trong du lịch sinh thái còn tương đối nguyên sơ, chưa chịu hoặc ít bị xâm hại b i bàn tay con người; còn văn hoá bản địa là các di c 8 tích kiển trúc, các giá trị văn hoá tồn tại dưới dạng vật thể, phi vật thể được tạo ra b i chính điều kiện tự nhiên và lịch sử phát triển của nơi điểm đến. M i khu vực bảo tồn tự nhiên phải đảm bảo tính đa dạng sinh học, có tính đặc thù để m i điểm đến tham quan có sự hấp dẫn riêng đối với khách du lịch. Các sản phẩm du lịch sinh thái hướng tới bảo tồn giá trị tự nhiên, văn hoá, xã họi nơi điểm đến. Việc bảo tồn các giá trị tự nhiên của hệ sinh thái vốn có là giúp khách du lịch hiểu biết về thiên nhiên, về hệ sinh thái tự nhiên.
Từ đó đánh giá lại những hành đ ng của mình đối với thiên nhiên, tìm cách sống hoà hợp với thiên nhiên.