Luận văn thạc sĩ đổi mới lý thuyết nghiên cứu phê bình văn học qua kỷ yếu di sản văn chương đại thi hào nguyễn du 250 năm nhìn lại 2015

Luận văn thạc sĩ văn học nghiên cứu đổi mới lý thuyết nghiên cứu phê bình văn học qua kỷ yếu di sản văn chương đại thi hào nguyễn du, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

107
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Luận văn thạc sĩ và bối cảnh nghiên cứu

Luận văn thạc sĩ này tập trung vào việc đổi mới lý thuyết nghiên cứu phê bình văn học thông qua di sản của Nguyễn Du nhân dịp kỷ niệm 250 năm ngày sinh của ông. Nghiên cứu này được thực hiện dựa trên cuốn kỷ yếu 'Di sản văn chương Đại thi hào Nguyễn Du - 250 năm nhìn lại' (2015), một tài liệu quan trọng trong việc đánh giá lại các giá trị văn học của Truyện Kiều. Bối cảnh nghiên cứu được đặt trong sự chuyển biến của lý thuyết nghiên cứu văn học từ những năm 1965 đến 2015, với sự xuất hiện của các lý thuyết mới như tiếp nhận văn học, phân tâm học, và tự sự học.

1.1. Bối cảnh chính trị xã hội văn hóa

Giai đoạn 1965, đất nước đang trong thời kỳ chiến tranh, lý thuyết nghiên cứu văn học chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của phê bình xã hội họchệ tư tưởng Macxit. Các nghiên cứu về Truyện Kiều thường tập trung vào các vấn đề đấu tranh giai cấpchống phong kiến, với mục đích phục vụ tư tưởng chính trị. Điều này dẫn đến việc các giá trị nghệ thuật của tác phẩm bị lãng quên, thay vào đó là sự áp đặt các yếu tố ngoài văn bản như tiểu sử tác giảbối cảnh lịch sử.

1.2. Sự chuyển biến trong nghiên cứu phê bình

Sau năm 1986, với sự đổi mớihội nhập, lý thuyết nghiên cứu văn học tại Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Các lý thuyết mới như tiếp nhận văn học, phân tâm học, và tự sự học được du nhập và áp dụng rộng rãi. Điều này giúp các nhà nghiên cứu tiếp cận Truyện Kiều từ nhiều góc độ khác nhau, khám phá những giá trị nghệ thuật và tư tưởng sâu sắc hơn.

II. Di sản văn hóa và nghiên cứu Nguyễn Du

Di sản văn hóa của Nguyễn Du, đặc biệt là Truyện Kiều, đã trở thành một đối tượng nghiên cứu quan trọng trong văn học Việt Nam. Cuốn kỷ yếu 'Di sản văn chương Đại thi hào Nguyễn Du - 250 năm nhìn lại' (2015) đã tập hợp các bài nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau, từ phê bình văn học đến phân tích văn hóa, nhằm đánh giá lại các giá trị của Truyện Kiều trong bối cảnh hiện đại.

2.1. Vận dụng lý thuyết tiếp nhận

Lý thuyết tiếp nhận được áp dụng để phân tích quá trình tiếp nhận Truyện Kiều qua các thời kỳ khác nhau. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, mỗi thời đại có cách tiếp cận và diễn giải tác phẩm khác nhau, phản ánh sự thay đổi trong tư tưởng văn hóahệ tư tưởng của xã hội. Điều này giúp làm sáng tỏ sự đa dạng trong cách hiểu và đánh giá Truyện Kiều.

2.2. Phân tâm học và tự sự học

Phân tâm họctự sự học là hai lý thuyết được vận dụng mạnh mẽ trong nghiên cứu Truyện Kiều. Phân tâm học giúp khám phá những ẩn ức và xung đột tâm lý của các nhân vật, trong khi tự sự học tập trung vào cấu trúc và cách kể chuyện của tác phẩm. Những cách tiếp cận này đã mở ra những hướng nghiên cứu mới, làm phong phú thêm hiểu biết về Truyện Kiều.

III. Giá trị và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu này không chỉ có giá trị học thuật mà còn mang lại nhiều ứng dụng thực tiễn. Việc đổi mới lý thuyết nghiên cứu phê bình văn học giúp các nhà giáo dục và nghiên cứu có thêm công cụ để tiếp cận và giảng dạy Truyện Kiều một cách hiệu quả hơn. Đồng thời, nghiên cứu cũng góp phần bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của Nguyễn Du, một trong những tác giả văn học cổ điển hàng đầu của Việt Nam.

3.1. Ứng dụng trong giáo dục

Những kết quả nghiên cứu từ luận văn thạc sĩ này có thể được áp dụng trong việc giảng dạy Truyện Kiều tại các trường học. Các phương pháp tiếp cận mới như tiếp nhận văn học, phân tâm học, và tự sự học giúp học sinh hiểu sâu hơn về tác phẩm, từ đó phát triển tư duy phê phán và sáng tạo.

3.2. Bảo tồn di sản văn hóa

Nghiên cứu cũng góp phần vào việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của Nguyễn Du. Bằng cách khám phá và đánh giá lại các giá trị của Truyện Kiều, nghiên cứu giúp nâng cao nhận thức của công chúng về tầm quan trọng của văn học cổ điển trong đời sống hiện đại.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIEN CỨU 1. Nhìn lại phương pháp nghiên cứu phê bình Truyện Kiều dịp kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du(1965) 1. Bối cảnh chính trị - xã hội – văn hóa Sau khi hiệp định Giơnevơ được kí kết(1954), đất nước tạm chia cắt thành hai miền, miền Bắc đi lên xây dựng xã hội chủ nghĩa, miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Ở miền Bắc, sau khi khôi phục kinh tế, thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất kinh tế xã hội bước đầu đã đạt những thành tựu nhất định, trở thành hậu phương lớn chi phối cho chiến trường miền Nam.

Tuy nhiên từ cuối năm 1964, Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, cả hai miền tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước do đó điều kiện kinh tế gặp vô vàn khó khăn. Bên cạnh đó do vận hành cơ chế tập trung quan liêu bao cấp nên sản xuất trì trệ, chủ yếu trông chờ sự viện trợ, ủng hộ của các nước phe xã hội chủ nghĩa, quan hệ giao lưu quốc tế hạn hẹp. Về văn hóa xã hội, do hệ thống tư tưởng macxit chi phối mọi hoạt động văn hóa xã hội nên nhìn chung đề cao tính cộng đồng, tính nhân dân, tính giai cấp trong mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa. Việc tiếp cận với những tư tưởng phương Tây ở miền Bắc hầu như không có, quan điểm macxit, phê bình xã hội học giữ địa vị thống trị trong văn học nghệ thuật, các hệ tư tưởng khác bị bài xích thậm chí bị coi là phản động.

Các lý thuyết văn học giai đoạn này chủ yếu được tiếp nhận từ Liên Xô, hầu như không có điều kiện giao lưu văn hóa quốc tế. Năm 1965, Đảng và nhà nước tổ chức kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du, đây là dịp tôn vinh lớn lao Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều tuy nhiên đó cũng là dịp cổ vũ tinh thần dân tộc, tinh thần chiến đấu ở cả hai miền. Sự Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 9 kiện này thu hút được nhiều nhà nghiên cứu phê bình Truyện Kiều trong đó có nhiều bài với mục đích lấy xưa nói nay, lấy Truyện Kiều để phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ. Nhìn lại phương pháp nghiên cứu phê bình Truyện Kiều dịp kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du(1965) Giai đoạn 1945-1975, do những khó khăn về chính trị, xã hội, đất nước trải qua hai cuộc chiến tranh ác liệt, quan hệ quốc tế chưa có điều kiện mở rộng nên chủ yếu nghiên cứu phê bình theo quan điểm Macxit quan tâm đến các vấn đề xã hội, đấu tranh giai cấp, chống phong kiến, khuynh hướng phê bình xã hội học, phê bình hệ tư tưởng chi phối mạnh mẽ và chủ yếu tập trung vào giá trị phục vụ tư tưởng của Truyện Kiều ( tiêu biểu như các bài phê bình Truyện Kiều của Hoài Thanh, Minh Tranh, Trần Đức Thảo, Hoàng Xuân Nhị).

Trong giai đoạn này, nhất là sau năm 1954, việc nghiên cứu Truyện Kiều gắn với hiện thực đời sống theo quan điểm macxit đã chi phối mạnh mẽ các nhà nghiên cứu phê bình do đó không tránh khỏi khuynh hướng xã hội học dung tục. Năm 1955, tạp san Đại học Sư phạm đã dành riêng các số 3,4 để kỷ niệm Nguyễn Du, trong đó tập hợp khá nhiều bài phê bình tiêu biểu như : Lịch sử vấn đề Truyện Kiều, Tính chất và mức độ chống phong kiến của Truyện Kiều của Trương Tửu, Đặc sắc văn học cổ điển Việt Nam qua nội dung Truyện Kiều của Đặng Thai Mai, Căn bản của chủ nghĩa nhân đạo chống phong kiến trong Truyện Kiều của Hoàng Xuân Nhị…Bên cạnh đó, Minh Tranh trên tạp san Văn Sử Địa cũng có bài Tìm hiểu Truyện Kiều và Nguyễn Du, trong đó tác giả quy các nhân vật vào các tầng lớp cụ thể trong xã hội, lí giải các xung đột truyện trên tinh thần mâu thuẫn, xung đột giai cấp, ông xếp Kiều vào tầng lớp phong kiến thất thế, Mã Giám Sinh, Tú Bà, Thúc Sinh là tầng lớp con buôn, Hoạn Thư, Hồ Tôn Hiến là đại phong kiến, Từ Hải là nông dân nổi dậy… Tác giả cho rằng việc Thúy Kiều phải bán mình rồi rơi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 10 vào tay Mã Giám Sinh, Tú Bà và cho đó là : “thật đúng là sự khuất phục đến sát đất của một giai cấp thất thế, suy tàn"[23, 52], dưới cái nhìn của Minh Tranh mọi xung đột trong tác phẩm đều trở thành xung đột giữa tầng lớp nhà buôn với tầng lớp phong kiến, giữ kinh tế thị dân với kinh tế phong kiến, giữa đạo đức thị dân với đạo đức phong kiến [52]. Ông tiếp tục lí giải việc Kiều gặp Từ Hải và cho đó là “sự đồng tình giữa tầng lớp thuần phong kiến đang thất thế với phong trào nông dân thiếu cảnh giác” [24, 52]. Tuy nhiên đó chính là dịp tốt để tầng lớp thuần phong kiến lợi dụng và phục vụ cho lợi ích của bản thân họ như việc dây cát nhờ bóng cây, Kiều còn lợi dụng để báo thù cho giai cấp của mình (báo ân, báo oán), sau đó Kiều khuyên Từ Hải ra hàng với những luận điệu che giấu tính chất của một giai cấp từ lâu đã thống trị nhân dân ta, giai cấp ấy đã trà trộn vào hàng ngũ Từ Hải để làm nội ứng cho Hồ Tôn Hiến (đại phong kiến), lung lạc Từ Hải để củng cố lại địa vị của mình, chế độ phong kiến được lập lại, lợi dụng nông dân để nhảy lên thống trị, giai cấp thuần phong kiến trở lại cuộc đời : - Nghìn năm dằng dặc quan giai lần lần - Phong lưu phú quý ai bì Vườn xuân một cửa đề bia muôn đời Theo quan điểm Minh Tranh, Kiều và Từ Hải là hai con người từ hai giai cấp đối lập nhau nên không thể cùng chung ý nghĩ được, tâm lý Kiều là tâm lý chung của giai cấp địa chủ nước ta.

Như vậy xã hội Truyện Kiều chính là xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX với những nét hiện thực đương thời đó là mâu thuẫn quyết liệt giữa nông dân với phong kiến, giữa phong kiến thuần túy với phong kiến kinh doanh, bản chất phong kiến xảo quyệt mưu mô, nông dân sơ hở, thiếu cảnh giác nên thất bại. Tiếp tục lối phê bình đó, năm 1956 trên tạp san Đại học sư phạm, Trần Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 11 Đức Thảo cho công bố bài Nội dung xã hội của Truyện Kiều, trong đó Trần Đức Thảo tìm hiểu kĩ hơn về thành phần giai cấp của các nhân vật như gia đình Kiều thuộc tầng lớp trung gian trong xã hội phong kiến (tiểu phong kiến) vì có khung cửi, gói may, đi bộ chứ không đi ngựa như bọn nhà giàu, Kim Trọng thuộc thành phần phong kiến thống trị vì có ngựa câu dòn, có kẻ hầu, quần áo sang trọng, có nhiều ruộng đất… Quá trình gia đình Kiều bị vu oan, Kiều phải bán mình nơi lầu xanh đánh dấu sự tan rã xã hội phong kiến, quá trình phân hóa giai cấp phong kiến. Lí giải mâu thuẫn Tài- Mệnh trong truyện, Trần Đức Thảo cho xuất phát từ kinh nghiệm thực tế xã hội, họ có tài nhưng không được sử dụng và còn bị bọn quý tộc, quan liêu đàn áp có khi tài thành tai vạ là vậy [15, 41]. Việc Kiều đến với Thúc Sinh được Trần Đức Thảo cho đó là Kiều tìm lối thoát trong thành phần phú thương, tuy nhiên trong liên minh phú thương với đại phong kiến (Hoạn Thư), phú thương vẫn chịu lép vế nên Thúc Sinh không thể che chở cho Kiều, bởi Hoạn Thư luôn giữ thể diện và lập lại trật tự phong kiến, ép Kiều thành con ở chứ không hẳn là ghen tuông kiểu đàn bà, trên thực tế Hoạn Thư coi thường, khinh bỉ Thúc Sinh : - Ví bằng thú thật cùng ta Cũng dong kẻ dưới mới là lượng trên - Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi - Hoa nô truyền dạy đổi tên Buồng the dậy ép vào phiên thị tỳ.

Cũng theo cách phê bình xã hội học, Trần Đức Thảo cho rằng Kiều đến với Từ Hải có động cơ chính trị rất rõ rệt đó là việc Kiều tìm đường giải phóng trong phong trào nông dân, lợi dụng nông dân để củng cố địa vị của mình. Tuy nhiên trên thực tế Từ Hải chưa thể đấu tranh vì nhân dân với nghĩa phục vụ nhân dân mà chỉ là kiểu anh hùng cá nhân, lãng mạn [35, 41]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 12 - Giang hồ quen thói vẫy vùng Gươm đàn nửa gánh non sông một chèo. - Triều đình riêng một góc trời - Nghênh ngang một cõi biên thùy Trước âm mưu của Hồ Tôn Hiến, Kiều khuyên Từ Hải ra hàng đó là sự trở lại tham vọng của bọn tiểu phong kiến, nhằm củng cố lại địa vị của mình.

Nếu trước Cách mạng, Trương Tửu vận dụng phân tâm học vào phê bình Truyện Kiều với rất nhiều nhận xét, đánh giá gây dư luận trái chiều đương thời thì sau Cách mạng quan điểm macxit lại chi phối mạnh mẽ trong phê bình Truyện Kiều của ông nhất là vấn đề chống phong kiến diễn ra sôi nổi giữa thập niên 50. Trên tạp san Đại học Sư phạm năm 1955, Trương Tửu công bố bài Tính chất và mức độ chống phong kiến của Truyện Kiều, trong đó Trương Tửu có những trao đổi lại với Hoàng Xuân Nhị, Trần Đức Thảo về những khía cạnh chưa đồng tình, những nhận xét chưa bao quát đồng thời nhấn mạnh tính chất chống phong kiến của Truyện Kiều chính là đề cao ý chí đấu tranh mạnh bạo của con người, đó chính là sự tán thành của Nguyễn Du với tư tưởng chống lại lễ giáo, luân lí, pháp luật phong kiến như tự do yêu đương luyến ái, treo ấn từ quan vì tình và ông cũng cho rằng chỉ khi nào con người chống lại những yếu tố phong kiến thì mới có hạnh phúc. Trương Tửu chỉ ra nhiều lần chiến thắng của những người chống phong kiến nhưng cũng chỉ ra nguyên nhân thất bại trong cuộc chiến này là do con người còn vướng vào ý thức hệ phong kiến, rõ nhất là sự thất bại của Từ Hải. Vấn đề chống phong kiến trở thành vấn đề trung tâm được rất nhiều nhà phê bình quan tâm trong giai đoạn này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Thạc Sĩ: Đổi Mới Lý Thuyết Nghiên Cứu Phê Bình Văn Học Qua Di Sản Nguyễn Du 250 Năm là một công trình nghiên cứu chuyên sâu, tập trung vào việc đổi mới lý thuyết phê bình văn học thông qua di sản của đại thi hào Nguyễn Du. Tài liệu này không chỉ làm sáng tỏ những giá trị văn hóa, nghệ thuật trong tác phẩm của Nguyễn Du mà còn đề xuất các phương pháp tiếp cận hiện đại, giúp độc giả hiểu sâu hơn về tầm ảnh hưởng của ông trong nền văn học Việt Nam. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho những ai quan tâm đến nghiên cứu văn học, đặc biệt là các học giả và sinh viên chuyên ngành.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ ngữ văn vị từ tình thái trong truyện kiều của nguyễn du, nghiên cứu chi tiết về ngôn ngữ và tình thái trong tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn Du. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ hán nôm khảo luận thơ từ trong hồng lâu mộng cung cấp góc nhìn so sánh giữa văn học Việt Nam và Trung Quốc, giúp bạn hiểu rõ hơn về sự giao thoa văn hóa. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ dạy học thơ nôm đường luật theo đặc điểm thi pháp thể loại ở trung học phổ thông là tài liệu hữu ích để khám phá cách tiếp cận thơ Nôm trong giáo dục hiện đại. Mỗi liên kết là cơ hội để bạn đào sâu hơn vào chủ đề, mở rộng hiểu biết và kết nối các khía cạnh khác nhau của văn học.