CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIEN CỨU 1. Nhìn lại phương pháp nghiên cứu phê bình Truyện Kiều dịp kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du(1965) 1. Bối cảnh chính trị - xã hội – văn hóa Sau khi hiệp định Giơnevơ được kí kết(1954), đất nước tạm chia cắt thành hai miền, miền Bắc đi lên xây dựng xã hội chủ nghĩa, miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Ở miền Bắc, sau khi khôi phục kinh tế, thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất kinh tế xã hội bước đầu đã đạt những thành tựu nhất định, trở thành hậu phương lớn chi phối cho chiến trường miền Nam.
Tuy nhiên từ cuối năm 1964, Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, cả hai miền tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước do đó điều kiện kinh tế gặp vô vàn khó khăn. Bên cạnh đó do vận hành cơ chế tập trung quan liêu bao cấp nên sản xuất trì trệ, chủ yếu trông chờ sự viện trợ, ủng hộ của các nước phe xã hội chủ nghĩa, quan hệ giao lưu quốc tế hạn hẹp. Về văn hóa xã hội, do hệ thống tư tưởng macxit chi phối mọi hoạt động văn hóa xã hội nên nhìn chung đề cao tính cộng đồng, tính nhân dân, tính giai cấp trong mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa. Việc tiếp cận với những tư tưởng phương Tây ở miền Bắc hầu như không có, quan điểm macxit, phê bình xã hội học giữ địa vị thống trị trong văn học nghệ thuật, các hệ tư tưởng khác bị bài xích thậm chí bị coi là phản động.
Các lý thuyết văn học giai đoạn này chủ yếu được tiếp nhận từ Liên Xô, hầu như không có điều kiện giao lưu văn hóa quốc tế. Năm 1965, Đảng và nhà nước tổ chức kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du, đây là dịp tôn vinh lớn lao Nguyễn Du và kiệt tác Truyện Kiều tuy nhiên đó cũng là dịp cổ vũ tinh thần dân tộc, tinh thần chiến đấu ở cả hai miền. Sự Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 9 kiện này thu hút được nhiều nhà nghiên cứu phê bình Truyện Kiều trong đó có nhiều bài với mục đích lấy xưa nói nay, lấy Truyện Kiều để phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ. Nhìn lại phương pháp nghiên cứu phê bình Truyện Kiều dịp kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du(1965) Giai đoạn 1945-1975, do những khó khăn về chính trị, xã hội, đất nước trải qua hai cuộc chiến tranh ác liệt, quan hệ quốc tế chưa có điều kiện mở rộng nên chủ yếu nghiên cứu phê bình theo quan điểm Macxit quan tâm đến các vấn đề xã hội, đấu tranh giai cấp, chống phong kiến, khuynh hướng phê bình xã hội học, phê bình hệ tư tưởng chi phối mạnh mẽ và chủ yếu tập trung vào giá trị phục vụ tư tưởng của Truyện Kiều ( tiêu biểu như các bài phê bình Truyện Kiều của Hoài Thanh, Minh Tranh, Trần Đức Thảo, Hoàng Xuân Nhị).
Trong giai đoạn này, nhất là sau năm 1954, việc nghiên cứu Truyện Kiều gắn với hiện thực đời sống theo quan điểm macxit đã chi phối mạnh mẽ các nhà nghiên cứu phê bình do đó không tránh khỏi khuynh hướng xã hội học dung tục. Năm 1955, tạp san Đại học Sư phạm đã dành riêng các số 3,4 để kỷ niệm Nguyễn Du, trong đó tập hợp khá nhiều bài phê bình tiêu biểu như : Lịch sử vấn đề Truyện Kiều, Tính chất và mức độ chống phong kiến của Truyện Kiều của Trương Tửu, Đặc sắc văn học cổ điển Việt Nam qua nội dung Truyện Kiều của Đặng Thai Mai, Căn bản của chủ nghĩa nhân đạo chống phong kiến trong Truyện Kiều của Hoàng Xuân Nhị…Bên cạnh đó, Minh Tranh trên tạp san Văn Sử Địa cũng có bài Tìm hiểu Truyện Kiều và Nguyễn Du, trong đó tác giả quy các nhân vật vào các tầng lớp cụ thể trong xã hội, lí giải các xung đột truyện trên tinh thần mâu thuẫn, xung đột giai cấp, ông xếp Kiều vào tầng lớp phong kiến thất thế, Mã Giám Sinh, Tú Bà, Thúc Sinh là tầng lớp con buôn, Hoạn Thư, Hồ Tôn Hiến là đại phong kiến, Từ Hải là nông dân nổi dậy… Tác giả cho rằng việc Thúy Kiều phải bán mình rồi rơi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 10 vào tay Mã Giám Sinh, Tú Bà và cho đó là : “thật đúng là sự khuất phục đến sát đất của một giai cấp thất thế, suy tàn"[23, 52], dưới cái nhìn của Minh Tranh mọi xung đột trong tác phẩm đều trở thành xung đột giữa tầng lớp nhà buôn với tầng lớp phong kiến, giữ kinh tế thị dân với kinh tế phong kiến, giữa đạo đức thị dân với đạo đức phong kiến [52]. Ông tiếp tục lí giải việc Kiều gặp Từ Hải và cho đó là “sự đồng tình giữa tầng lớp thuần phong kiến đang thất thế với phong trào nông dân thiếu cảnh giác” [24, 52]. Tuy nhiên đó chính là dịp tốt để tầng lớp thuần phong kiến lợi dụng và phục vụ cho lợi ích của bản thân họ như việc dây cát nhờ bóng cây, Kiều còn lợi dụng để báo thù cho giai cấp của mình (báo ân, báo oán), sau đó Kiều khuyên Từ Hải ra hàng với những luận điệu che giấu tính chất của một giai cấp từ lâu đã thống trị nhân dân ta, giai cấp ấy đã trà trộn vào hàng ngũ Từ Hải để làm nội ứng cho Hồ Tôn Hiến (đại phong kiến), lung lạc Từ Hải để củng cố lại địa vị của mình, chế độ phong kiến được lập lại, lợi dụng nông dân để nhảy lên thống trị, giai cấp thuần phong kiến trở lại cuộc đời : - Nghìn năm dằng dặc quan giai lần lần - Phong lưu phú quý ai bì Vườn xuân một cửa đề bia muôn đời Theo quan điểm Minh Tranh, Kiều và Từ Hải là hai con người từ hai giai cấp đối lập nhau nên không thể cùng chung ý nghĩ được, tâm lý Kiều là tâm lý chung của giai cấp địa chủ nước ta.
Như vậy xã hội Truyện Kiều chính là xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX với những nét hiện thực đương thời đó là mâu thuẫn quyết liệt giữa nông dân với phong kiến, giữa phong kiến thuần túy với phong kiến kinh doanh, bản chất phong kiến xảo quyệt mưu mô, nông dân sơ hở, thiếu cảnh giác nên thất bại. Tiếp tục lối phê bình đó, năm 1956 trên tạp san Đại học sư phạm, Trần Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 11 Đức Thảo cho công bố bài Nội dung xã hội của Truyện Kiều, trong đó Trần Đức Thảo tìm hiểu kĩ hơn về thành phần giai cấp của các nhân vật như gia đình Kiều thuộc tầng lớp trung gian trong xã hội phong kiến (tiểu phong kiến) vì có khung cửi, gói may, đi bộ chứ không đi ngựa như bọn nhà giàu, Kim Trọng thuộc thành phần phong kiến thống trị vì có ngựa câu dòn, có kẻ hầu, quần áo sang trọng, có nhiều ruộng đất… Quá trình gia đình Kiều bị vu oan, Kiều phải bán mình nơi lầu xanh đánh dấu sự tan rã xã hội phong kiến, quá trình phân hóa giai cấp phong kiến. Lí giải mâu thuẫn Tài- Mệnh trong truyện, Trần Đức Thảo cho xuất phát từ kinh nghiệm thực tế xã hội, họ có tài nhưng không được sử dụng và còn bị bọn quý tộc, quan liêu đàn áp có khi tài thành tai vạ là vậy [15, 41]. Việc Kiều đến với Thúc Sinh được Trần Đức Thảo cho đó là Kiều tìm lối thoát trong thành phần phú thương, tuy nhiên trong liên minh phú thương với đại phong kiến (Hoạn Thư), phú thương vẫn chịu lép vế nên Thúc Sinh không thể che chở cho Kiều, bởi Hoạn Thư luôn giữ thể diện và lập lại trật tự phong kiến, ép Kiều thành con ở chứ không hẳn là ghen tuông kiểu đàn bà, trên thực tế Hoạn Thư coi thường, khinh bỉ Thúc Sinh : - Ví bằng thú thật cùng ta Cũng dong kẻ dưới mới là lượng trên - Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi - Hoa nô truyền dạy đổi tên Buồng the dậy ép vào phiên thị tỳ.
Cũng theo cách phê bình xã hội học, Trần Đức Thảo cho rằng Kiều đến với Từ Hải có động cơ chính trị rất rõ rệt đó là việc Kiều tìm đường giải phóng trong phong trào nông dân, lợi dụng nông dân để củng cố địa vị của mình. Tuy nhiên trên thực tế Từ Hải chưa thể đấu tranh vì nhân dân với nghĩa phục vụ nhân dân mà chỉ là kiểu anh hùng cá nhân, lãng mạn [35, 41]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 12 - Giang hồ quen thói vẫy vùng Gươm đàn nửa gánh non sông một chèo. - Triều đình riêng một góc trời - Nghênh ngang một cõi biên thùy Trước âm mưu của Hồ Tôn Hiến, Kiều khuyên Từ Hải ra hàng đó là sự trở lại tham vọng của bọn tiểu phong kiến, nhằm củng cố lại địa vị của mình.
Nếu trước Cách mạng, Trương Tửu vận dụng phân tâm học vào phê bình Truyện Kiều với rất nhiều nhận xét, đánh giá gây dư luận trái chiều đương thời thì sau Cách mạng quan điểm macxit lại chi phối mạnh mẽ trong phê bình Truyện Kiều của ông nhất là vấn đề chống phong kiến diễn ra sôi nổi giữa thập niên 50. Trên tạp san Đại học Sư phạm năm 1955, Trương Tửu công bố bài Tính chất và mức độ chống phong kiến của Truyện Kiều, trong đó Trương Tửu có những trao đổi lại với Hoàng Xuân Nhị, Trần Đức Thảo về những khía cạnh chưa đồng tình, những nhận xét chưa bao quát đồng thời nhấn mạnh tính chất chống phong kiến của Truyện Kiều chính là đề cao ý chí đấu tranh mạnh bạo của con người, đó chính là sự tán thành của Nguyễn Du với tư tưởng chống lại lễ giáo, luân lí, pháp luật phong kiến như tự do yêu đương luyến ái, treo ấn từ quan vì tình và ông cũng cho rằng chỉ khi nào con người chống lại những yếu tố phong kiến thì mới có hạnh phúc. Trương Tửu chỉ ra nhiều lần chiến thắng của những người chống phong kiến nhưng cũng chỉ ra nguyên nhân thất bại trong cuộc chiến này là do con người còn vướng vào ý thức hệ phong kiến, rõ nhất là sự thất bại của Từ Hải. Vấn đề chống phong kiến trở thành vấn đề trung tâm được rất nhiều nhà phê bình quan tâm trong giai đoạn này.