Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ ĐIỀU KIỆN CẤP PHÉP KINH DOANH DỊCH VỤ DU LỊCH 1. Những vấn đề lý luận về điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch 1. Khái niệm kinh doanh dịch vụ du lịch 1. Du lịch Thực tế, có rất nhiều khái niệm về du lịch đã được đưa ra.
Những khái niệm này có thể phản ánh du lịch dưới những góc độ khác nhau tùy thuộc vào cách nhìn nhận du lịch trong từng giai đoạn phát triển. Một số học giả, chuyên gia về du lịch trên thế giới thường cho rằng: “Du lịch là nghệ thuật đi chơi của các cá nhân”. Khái niệm này đề cập đến mục đích chính của du lịch là “đi chơi” [12]. “Du lịch là sự mở rộng không gian văn hóa của con người”.
Trong khái niệm này, ý nghĩa tích cực về mặt văn hóa du lịch chính là việc tăng cường sự hiểu biết cho con người [12]. “Du lịch là sự chinh phục không gian của con người đến một địa điểm không phải là nơi ở thường xuyên của họ” [12]. Đặc điểm nổi bật của du lịch chính là việc con người phải rời nơi cư trú đi đến một địa điểm khác, tuy nhiên mục đích chính của việc rời đi này lại chưa được đề cập cụ thể trong khái niệm này. “Du lịch là hiện tượng những người ở chỗ khác, ngoài nơi ở thường xuyên, đi đến bằng các phương tiện giao thông và sử dụng sản phẩm của các doanh nghiệp du lịch”.
Khái niệm này đề cập đến việc khách du lịch sử dụng phương tiện giao thông và sản phẩm của các đơn vị kinh doanh du lịch, là những dịch vụ cơ bản mà nhờ đó ngành du lịch hình thành và phát triển [12]. 7 “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tượng phát sinh từ cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở và nơi làm việc thường xuyên của họ” [12]. Trong khái niệm này, sự tiến triển lớn trong nhận thức về du lịch được thể hiện khi người đưa ra khái niệm đề cập đến đồng thời hoạt động của người đi du lịch và những hoạt động khác liên quan được bắt nguồn từ việc đi du lịch của khách du lịch. Những hoạt động đó có thể được phát sinh nhằm hỗ trợ cho việc đi du lịch của khách du lịch được thuận tiện hơn, cũng có thể là những tương tác giữa khách du lịch với những yếu tố hoặc những người họ gặp trong chuyến hành trình của mình.
Điều đó thể hiện tính chất phức tạp của hoạt động du lịch, không đơn thuần chỉ là hoạt động di chuyển và lưu trú của con người ngoài nơi cư trú, để thỏa mãn những nhu cầu cá nhân của họ, mà còn liên quan đến rất nhiều mối quan hệ, với những tác động nhiều mặt không chỉ về kinh tế, mà cả về văn hóa - xã hội, môi trường. Mặt khác, theo quan điểm của Robert W.R Brent Ritcie, “du lịch là tổng hợp các mối quan hệ nảy sinh từ các tác động qua lại giữa khách du lịch, nhà cung ứng, chính quyền và cộng đồng chủ nhà trong quá trình thu hút và đón tiếp khách du lịch” [11]. Đây là quan điểm tiếp cận tổng hợp, chỉ ra được bốn thành cùng tham gia và tạo nên hoạt động du lịch: khách du lịch; các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khách du lịch; chính quyền sở tại; cộng đồng dân cư địa phương. Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra các khái niệm xét trên nhiều góc độ khác nhau.
Cụ thể, du lịch có thể được hiểu là [14]: Sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng. 8 Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh. Du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, thưởng lãm danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật. Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử văn hóa và dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn, có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ.
Năm 2005, Luật Du lịch được ban hành, chính thức quy định các nội dung liên quan đến du lịch và ngành du lịch. Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 đã quy định tại Điều 4 về khái niệm du lịch như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [27]. Khái niệm này cơ bản được kế thừa trong Luật Du lịch năm 2017 (tại Khoản 1 Điều 3), theo đó, “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác” [27]. Từ các khái niệm trên đây, có thể thấy, không phải tất cả hoạt động đi lại rời khỏi nơi cư trú của con người đều được coi là du lịch.
Du lịch được giới hạn bởi không gian, thời gian, mục đích chuyến đi như tham quan, giải trí, tìm hiểu, 9 nghỉ dưỡng ở nơi khác, thời gian được xác định cụ thể, thời gian hết thì chủ thể tham gia chuyến đi du lịch sẽ trở về nơi xuất phát ban đầu (nơi ở hiện tại). Các hoạt động đi ra nước ngoài du học, đi công tác,. không là hoạt động du lịch. Theo pháp luật du lịch của Việt Nam hiện nay khái niệm du lịch được giới hạn với 04 mục đích chính là hoạt động tham quan, tìm hiểu, nghỉ dưỡng và giải trí.
Một cách khác ta có thể hiểu rằng du lịch phát sinh từ nhu cầu của người đi, thực hiện sự di chuyển ra ngoài nơi cư trú với mục đích của chuyến đi là tham quan, tìm hiểu, nghỉ dưỡng, giải trí có thời gian được hoạch định rõ ràng cụ thể và luôn có sự trở về nơi xuất phát ban đầu. Kinh doanh dịch vụ du lịch Để hiểu biết cụ thể hơn về hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch, chúng ta không thể nào bỏ qua thuật ngữ “kinh doanh” (một trong những thuật ngữ đang được sử dụng khá phổ biến trong đời sống nhất ở cả Việt Nam và trên thế giới). Định nghĩa “kinh doanh” đã được pháp luật Việt Nam chính thức sử dụng bắt đầu từ năm 1990 trong nội dung của Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân. Từ năm 1990, định nghĩa “kinh doanh” được nhắc đến trong Luật Doanh nghiệp tư nhân tại Điều 2 “là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.
Khái niệm này được giải thích trong Khoản 2 Điều 3 Luật Doanh nghiệp năm 1999 như sau: “Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” [19]. Đến năm 2014, Quốc hội đã thông qua Luật Doanh nghiệp 2014 với định nghĩa cụ thể về kinh doanh tại Khoản 16 Điều 4 “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” [25]. Khoản 21 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 10 năm 2020 giải thích “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận.” Theo luật định, có thể thấy kinh doanh bao gồm tất cả các hoạt động mua bán và trao đổi hàng hóa từ các hoạt động sản xuất, nhằm mục đích sinh lợi cho doanh nghiệp. Định nghĩa “kinh doanh” trong Luật Doanh nghiệp năm 2014 có nét tương đồng với định nghĩa thương mại trong Luật Thương mại năm 2005 (Khoản 1 Điều 3), theo đó hoạt động thương mại “là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”[19].
Như vậy, đến giai đoạn hiện nay định nghĩa về kinh doanh có thể được hiểu chính là hoạt động thương mại theo nghĩa rộng. Ở những thế kỷ trước, các nhà khoa học, các nhà kinh doanh quan niệm du lịch là hoạt động mang tính chất văn hóa giúp cho con người thỏa mãn nhu cầu giải trí, tìm hiểu của con người và khi đó du lịch không được xem là hoạt động kinh tế, không mang tính chất kinh doanh và ít được chú trọng đầu tư phát triển. Hiện nay, du lịch đang được cả thế giới chú ý đến và được xem là một ngành kinh tế tổng hợp từ các ngành khác đóng góp đáng kể vào nền kinh tế của các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Du lịch bao gồm các hoạt động khá đa dạng từ dịch vụ kinh doanh khách sạn, nhà hàng và dịch vụ ăn uống, cung cấp quà lưu niệm cho du khách,….
Từ việc tổng hợp các kiến thức lý luận và từ thực tiễn về hoạt động du lịch tại Việt Nam hiện nay, tại Khoản 3 Điều 3 Luật Du lịch năm 2017 đã định nghĩa hoạt động du lịch: “là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch và cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư có liên quan đến du lịch”[27].