Tổng quan nghiên cứu

Ngành du lịch Việt Nam đang khẳng định vị thế là ngành kinh tế mũi nhọn theo tinh thần Nghị quyết 08-NQ/TW năm 2017 của Bộ Chính trị, đóng góp trực tiếp trên 9,2% vào GDP cả nước. Tại Thành phố Hồ Chí Minh – trung tâm kinh tế năng động bậc nhất chiếm gần 40% doanh thu du lịch toàn quốc, việc quản lý và phát triển thị trường du lịch bền vững đòi hỏi một hành lang pháp lý minh bạch, chặt chẽ nhưng thông thoáng. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là sự tương thích giữa quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thực thi các điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch trên địa bàn đô thị đặc thù.

Mục tiêu cụ thể của công trình là làm rõ cơ sở lý luận về điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch; rà soát, đánh giá hệ thống văn bản pháp luật xoay quanh Luật Du lịch năm 2017; khảo sát toàn diện thực trạng cấp phép kinh doanh lữ hành, lưu trú, vận tải và dịch vụ bổ trợ tại Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2019; từ đó xác định rõ các điểm nghẽn hành chính, xung đột quy định để đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá.

Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp bộ dữ liệu thực chứng gồm 2 biểu bảng tổng hợp về cấp phép kinh doanh, phục vụ trực tiếp cho quá trình tối ưu hóa thủ tục hành chính, hướng tới mục tiêu giảm 25% chi phí tuân thủ pháp lý cho hơn 1.200 doanh nghiệp lữ hành và cơ sở dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng hệ thống phân tích dựa trên hai lý thuyết nền tảng: Lý thuyết Quản lý nhà nước về kinh tế bằng pháp luật và Lý thuyết Quyền tự do kinh doanh theo tinh thần Điều 33 Hiến pháp năm 2013. Tác giả vận dụng mô hình phân tích điều kiện gia nhập thị trường nhằm cân bằng giữa mục tiêu bảo vệ trật tự công cộng, quyền lợi người tiêu dùng và quyền tự do thương mại của chủ thể kinh doanh.

Bên cạnh đó, 4 khái niệm hạt nhân được chuẩn hóa xuyên suốt công trình gồm:

  1. Du lịch và hoạt động du lịch theo Khoản 1 Điều 3 Luật Du lịch năm 2017;
  2. Dịch vụ du lịch theo tiêu chuẩn chất lượng ISO 9001:1991;
  3. Điều kiện cấp phép kinh doanh có điều kiện theo Khoản 1 Điều 7 Luật Đầu tư năm 2014 (sửa đổi năm 2016);
  4. Kinh doanh dịch vụ lữ hành, vận tải khách du lịch và dịch vụ lưu trú du lịch theo các điều 31, 45, 48 Luật Du lịch năm 2017.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp đáng tin cậy. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam (Luật Du lịch năm 2005, Luật Du lịch năm 2017, Luật Doanh nghiệp năm 2014 và năm 2020) kết hợp với các báo cáo quản lý nhà nước của Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2014 đến tháng 9 năm 2019.

Về dữ liệu thực chứng, nghiên cứu thực hiện khảo sát chọn mẫu định mức đối với 200 hồ sơ xin cấp phép kinh doanh lữ hành, lưu trú và 50 doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn 24 quận, huyện của thành phố. Phương pháp chọn mẫu này được ưu tiên nhằm bao quát đầy đủ các mô hình kinh doanh từ công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần đến hộ kinh doanh cá thể. Luận văn kết hợp phương pháp phân tích quy phạm luật học, phương pháp thống kê mô tả và phương pháp so sánh luật học (đối chiếu kinh nghiệm của Mỹ, Singapore và Trung Quốc) để làm sáng tỏ tính đặc thù của thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong mốc thời gian hoàn thành nghiên cứu năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu làm rõ 4 phát hiện quan trọng về điều kiện và thủ tục cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch:

Thứ nhất, Luật Du lịch năm 2017 đã tạo bước ngoặt lớn khi chuyển đổi mạnh mẽ tư duy quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Mức tiền ký quỹ bắt buộc đối với kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa được chuẩn hóa ở mức 100 triệu đồng, trong khi lữ hành quốc tế duy trì từ 250 triệu đến 500 triệu đồng tùy phạm vi đón khách. Quy định này giúp thanh lọc khoảng 15% đến 20% doanh nghiệp yếu kém về năng lực tài chính, bảo vệ an toàn cho hàng triệu du khách.

Thứ hai, trong bức tranh cấp phép tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014 – 2019, số lượng giấy phép lữ hành quốc tế và nội địa tăng trưởng bình quân 12,5% mỗi năm. Địa bàn thành phố luôn dẫn đầu cả nước khi tập trung hơn 55% tổng số doanh nghiệp lữ hành quốc tế của toàn vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Thứ ba, sự thiếu đồng bộ giữa danh mục 243 ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo Luật Đầu tư năm 2014 và quy định chuyên ngành du lịch dẫn đến tỷ lệ cấp biển hiệu đạt chuẩn cho phương tiện vận tải khách du lịch đường bộ và đường thủy nội địa chỉ đạt mức khoảng 62% so với tổng số phương tiện đăng ký thực tế.

Thứ tư, điều kiện về văn bằng, chứng chỉ của người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành (tốt nghiệp chuyên ngành lữ hành từ trung cấp với nội địa, từ cao đẳng với quốc tế) còn tạo ra kẽ hở khi việc đào tạo, cấp chứng chỉ nghiệp vụ điều hành du lịch tại một số cơ sở giáo dục còn nặng tính hình thức, làm giảm 30% hiệu lực quản trị chất lượng nhân sự thực tế.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện trên phản ánh rõ sự xung đột giữa tốc độ phát triển thị trường và năng lực quản lý thể chế. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc thiếu cổng liên thông dữ liệu giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan chuyên ngành du lịch, khiến thời gian xử lý thủ tục trên thực tế kéo dài thêm 5 đến 7 ngày làm việc so với hạn mức luật định.

Dữ liệu nghiên cứu được minh họa trực quan qua Biểu đồ phát triển giấy phép lữ hành 2014 – 2019 và Bảng đối chiếu khung pháp lý giữa Việt Nam, Mỹ, Singapore và Trung Quốc. Trong khi Singapore tối ưu hóa 3 loại giấy phép (bắt buộc, nghề nghiệp, hoạt động) thông qua hệ thống trực tuyến OBLS của cơ quan ACRA với thời gian xét duyệt 14 đến 60 ngày, còn Mỹ phân quyền chi tiết cho DCRA, DDOT và DHO, thì Việt Nam vẫn phân tán quy định tại nhiều văn bản dưới luật. Việc nghiên cứu so sánh khẳng định tính tất yếu của việc đơn giản hóa điều kiện đầu tư, minh bạch hóa căn cứ cấp phép để giảm tải gánh nặng thủ tục.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện khung khổ pháp lý và nâng cao hiệu lực thực thi, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể:

  1. Rà soát, cắt giảm 20% đến 25% các điều kiện kinh doanh không cần thiết trong lĩnh vực lưu trú và vận tải du lịch; bãi bỏ các yêu cầu trùng lặp về cơ sở vật chất phòng cháy chữa cháy vốn đã được quản lý bởi luật chuyên ngành. Mục tiêu hoàn thành việc sửa đổi văn bản hướng dẫn Luật Du lịch trước quý IV năm 2021, do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì phối hợp với Bộ Công an.

  2. Thiết lập Cổng dịch vụ công trực tuyến một cửa liên thông giữa Sở Kế hoạch và Đầu tư với Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh, nâng tỷ lệ nộp và xử lý hồ sơ cấp phép lữ hành mức độ 4 đạt trên 95% vào cuối năm 2022, do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh chỉ đạo triển khai.

  3. Siết chặt công tác thanh tra, kiểm tra hậu kiểm đối với 100% doanh nghiệp lữ hành về việc duy trì tài khoản ký quỹ ngân hàng và tiêu chuẩn bằng cấp của người điều hành, kiên quyết xử lý và thu hồi giấy phép đối với các đơn vị vi phạm, phấn đấu giảm tỷ lệ sai phạm xuống dưới 3% trong giai đoạn 2021 – 2025, do Thanh tra Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện.

  4. Xây dựng bản đồ số tài nguyên du lịch kết hợp cơ sở dữ liệu GIS nhằm quy hoạch 100% các điểm dừng, đỗ, đón trả khách cho phương tiện vận tải du lịch đường bộ và đường thủy nội địa trước năm 2023, do Sở Du lịch phối hợp cùng Sở Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng trọng điểm:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch, Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh): Sử dụng làm tài liệu tham chiếu xây dựng chính sách, cải cách thủ tục hành chính và số hóa quy trình cấp phép giai đoạn mới.

  2. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch (công ty lữ hành quốc tế, nội địa, khách sạn, đơn vị vận chuyển): Nắm bắt chi tiết các điều kiện ký quỹ, văn bằng người phụ trách, quy chuẩn phương tiện để hoàn thiện 100% tính pháp lý trong hồ sơ thành lập và duy trì hoạt động.

  3. Viện nghiên cứu, giảng viên và sinh viên ngành Luật Kinh tế, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành: Khai thác hệ thống lý luận, phương pháp luận nghiên cứu thực chứng và nguồn tư liệu so sánh quốc tế phong phú từ Mỹ, Singapore, Trung Quốc cho các đề tài khoa học liên quan.

  4. Luật sư và chuyên viên tư vấn pháp lý doanh nghiệp: Vận dụng giải pháp thực tiễn của luận văn để tư vấn tái cơ cấu ngành nghề có điều kiện, xử lý tranh chấp hợp đồng và bảo đảm tuân thủ pháp luật chuyên ngành cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Câu hỏi thường gặp

Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa cần chuẩn bị mức tiền ký quỹ là bao nhiêu?
Theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 31 Luật Du lịch năm 2017, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa phải thực hiện ký quỹ 100 triệu đồng tại ngân hàng thương mại. Khoản tiền này phải được duy trì liên tục trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh để đảm bảo bồi thường quyền lợi cho du khách khi có sự cố phát sinh.

Người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế phải đáp ứng tiêu chuẩn bằng cấp gì?
Người phụ trách bộ phận lữ hành quốc tế bắt buộc phải tốt nghiệp cao đẳng trở lên chuyên ngành về lữ hành. Trường hợp tốt nghiệp chuyên ngành khác từ trình độ cao đẳng trở lên, nhân sự đó phải có chứng chỉ nghiệp vụ điều hành du lịch quốc tế hợp lệ theo quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 31 Luật Du lịch năm 2017.

Kinh nghiệm cấp phép du lịch của Singapore mang lại bài học nào cho Việt Nam?
Singapore áp dụng mô hình cấp phép tích hợp qua cổng điện tử OBLS của cơ quan ACRA, cho phép nộp đơn xin thành lập doanh nghiệp và xin giấy phép ngành nghề cùng một lúc. Thời gian cấp phép dao động 14 đến 60 ngày, giúp tiết kiệm 40% chi phí thời gian và hạn chế tối đa tiêu cực trong quy trình tiếp nhận hồ sơ.

Phương tiện vận tải khách du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh được hưởng quyền ưu tiên gì?
Phương tiện vận tải được cấp biển hiệu du lịch theo Điều 45 Luật Du lịch năm 2017 được ưu tiên bố trí dừng, đỗ, neo đậu đón trả khách tại sân bay, nhà ga, bến cảng, cơ sở lưu trú và được phép hoạt động trên các tuyến giao thông trọng điểm không bị giới hạn khung giờ cao điểm theo quy định của chính quyền địa phương.

Thời hạn thông báo thay đổi người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành là bao lâu?
Khi có sự thay đổi người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành, doanh nghiệp có nghĩa vụ gửi thông báo bằng văn bản kèm hồ sơ chứng minh năng lực của người thay thế đến cơ quan có thẩm quyền cấp phép trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có sự thay đổi chính thức.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ du lịch theo nguyên tắc tự do kinh doanh có kiểm soát của Hiến pháp năm 2013 và Luật Du lịch năm 2017.
  • Công trình đánh giá xác đáng thực trạng cấp phép tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014 – 2019, chỉ ra tỷ lệ tăng trưởng giấy phép lữ hành 12,5%/năm đi kèm những vướng mắc về thủ tục vận tải và lưu trú.
  • Luận văn đúc kết thành công bài học kinh nghiệm quốc tế từ Mỹ, Singapore và Trung Quốc về số hóa quy trình và phân định rõ căn cứ thiết lập điều kiện kinh doanh.
  • Đưa ra hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá với lộ trình triển khai rõ ràng từ năm 2021 đến 2025 nhằm cắt giảm chi phí tuân thủ và nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch đô thị.
  • Định hướng chuyển đổi số mạnh mẽ quy trình quản lý nhà nước, tích hợp dữ liệu một cửa liên thông đạt chuẩn 100% dịch vụ công mức độ 4.

Quý bạn đọc, nhà nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp hãy tham khảo toàn văn công trình nghiên cứu để áp dụng hiệu quả các giải pháp pháp lý tối ưu vào thực tiễn quản lý và hoạt động kinh doanh du lịch.