Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về huy động vốn của NHTM Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng huy động vốn tại BIDV Vĩnh Phúc. Chương 4: Giải pháp đẩy mạnh huy động vốn tại BIDV Vĩnh Phúc. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM 1.
Tổng quan về NHTM 1. Khái niệm NHTM trong nền kinh tế Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau để đƣa ra khái niệm về NHTM. Ở Mỹ, NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Ở Pháp, NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thƣờng xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dƣới hình thức ký thác, hoặc dƣới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”.
Nhìn chung các khái niệm đƣợc đƣa ra đều dựa trên chức năng, hoạt động và vai trò của NHTM. Đặc trƣng của các NHTM so với các tổ chức tài chính khác là chuyên về nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp các dịch vụ thanh toán. Bất kỳ NHTM hay TCTC nào đều hoạt động trong phạm vi pháp luật cho phép và đều hoạt động dựa trên cơ sở sự phát triển của hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế. Cách tiếp cận có tính logic hơn là xem xét NHTM trên phƣơng diện những loại hình dịch vụ cung cấp.
Theo đó, Luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam ban hành năm 2010 (Quốc hội, 2010) đã định nghĩa: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”. Và: “Ngân hàng loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”. Và vì vậy, trong nghiên cứu này tác giả sẽ sử dụng định nghĩa của luật tổ chức tín dụng của Việt Nam ban hành 1998 về ngân hàng để làm cơ sở cho các phân tích kế tiếp. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.
Chức năng của NHTM Tầm quan trọng của NHTM đƣợc thể hiện qua các chức năng của nó. Các nhà kinh tế học đã ví NHTM là trái tim của nền kinh tế. Ngân hàng hút tiền về, bơm tiền đi vì thế các nguồn vốn nhàn rỗi đƣợc khơi thông đƣa tiền từ nơi thừa đến nơi thiếu, giúp cho quá trình lƣu chuyển tiền tệ một cách hiệu quả. Các chức năng của NHTM có thể đƣợc nêu ra dƣới nhiều khía cạnh khác nhau, nhƣng bao gồm ba chức năng chủ yếu: chức năng trung gian tín dụng, trung gian thanh toán, chức năng tạo tiền.
Chức năng trung gian tín dụng Chức năng trung gian tín dụng đƣợc xem là chức năng quan trọng nhất của NHTM. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa ngƣời thừa vốn và ngƣời có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là ngƣời đi vay, vừa đóng vai trò là ngƣời cho vay và hƣởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: ngƣời gửi tiền và ngƣời đi vay… Ngày nay, quan niệm trung gian tín dụng trở nên biến hoá hơn. Sự phát triển của thị trƣờng tài chính làm xuất hiện các khía cạnh khác của chức năng này.
Ngân hàng có thể đứng làm trung gian giữa công ty (khi phát hành cổ phiếu) với những nhà đầu tƣ, thực hiện chuyển giao các mệnh lệnh trên thị trƣờng chứng khoán; đảm nhận việc mua bán trái phiếu công ty. Theo cách này Ngân hàng làm trung gian giữa ngƣời đầu tƣ và ngƣời cần vay vốn trên thị trƣờng. Chức năng trung gian thanh toán Hiện nay, việc tiêu dùng tiền mặt có nhiều hạn chế nhƣ mức độ rủi ro cao do không an toàn, chi phí vận chuyển lớn, tốn nhiều thời gian kiểm đếm… Nhờ có sự ra đời và phát triển của hệ thống NHTM, phần lớn các khoản thanh toán đều đƣợc thực hiện thông qua chuyển khoản. Ở đây NHTM Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 7 đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng nhƣ trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ.
Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phƣơng tiện thanh toán tiện lợi nhƣ séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phƣơng thức thanh toán phù hợp. Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lƣu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lƣu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. Chức năng tạo tiền Chức năng tạo tiền đƣợc thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng trung gian tín dụng và chức năng thanh toán. NHTM sử dụng số tiền huy động vốn có đƣợc để cho vay, số tiền cho vay lại đƣợc khách hàng sử dụng để thanh toán, mua hàng hóa dịch vụ.
Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phƣơng tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. Khả năng tạo tiền của NHTM phụ thuộc vào các yếu tố nhƣ: tỉ lệ dự trữ bắt buộc, tỉ lệ dự trữ dƣ thừa và tỉ lệ giữa tiền mặt so với tiền gửi thanh toán. Vai trò của NHTM a. NHTM là trung gian cung cấp vốn cho nền kinh tế Bằng các kênh huy động vốn khác nhau, NHTM đã thu hút đƣợc một khối lƣợng vốn nhàn rỗi từ dân cƣ, tổ chức kinh tế, định chế tài chính.
Trên cơ sở nguồn vốn huy động đƣợc tiến hành cấp tín dụng cho các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân cần vốn để phục vụ cho nhu cầu chi tiêu, nhu cầu sản xuất kinh doanh, đặc biệt là nguồn vốn ngắn hạn. Khi đó NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa một bên là những ngƣời có nguồn vốn nhàn rỗi có thể cho vay và một bên là những ngƣời cần vay vốn. Thực hiện chức năng này tức là NHTM Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 8 đã trở thành ngƣời khơi thông và kích hoạt các nguồn vốn, làm cho nguồn vốn luôn hoạt động và sinh lời. Những hoạt động đó của NHTM đã thực sự tác động điều hoà cung cầu tiền tệ, kích thích hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế đƣợc diễn ra liên tục và nhịp nhàng, tạo công ăn việc làm cho ngƣời lao động.
NHTM góp phần quản lý nâng cao hiệu quả các nhà kinh doanh trong nền kinh tế Khi doanh nghiệp, tổ chức đƣợc đủ điều kiện cấp tín dụng, phải tuân thủ các nguyên tắc nhất định theo quy định của ngân hàng nhƣ: tiền vay phải đƣợc sử dụng đúng mục đích, thực hiện cam kết trả nợ gốc và lãi theo đúng thỏa thuận với ngân hàng. Vì vậy để đảm bảo an toàn tài sản cho ngân hàng và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho doanh nghiệp thì trƣớc khi cho vay, ngân hàng cần phải thẩm định phƣơng án sử dụng vốn vay, thẩm định tính khả thi của dự án, thẩm định tài sản đảm bảo, thẩm định các yếu tố liên quan đến chỉ tiêu định tính của doanh nghiệp nhƣ: uy tín, thƣơng hiệu, qua đó cán bộ tín dụng giúp doanh nghiệp xây dựng phƣơng án sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Sau khi cho doanh nghiệp vay vốn, ngân hàng vẫn tiếp tục tiến hành giám sát quá trình sử dụng vốn vay của doanh nghiệp và thông qua hoạt động thanh toán hộ thì ngân hàng có thể giúp doanh nghiệp quản lý tốt hơn về vốn và sử dụng vốn. Hoạt động của NHTM giúp chính phủ thực thi chính sách tiền tệ Với đặc điểm của NHTM là một tổ chức trung gian tài chính với các hoạt động chủ yếu là huy động vốn, cho vay và thực hiện chức năng trung gian thanh toán.
Lƣợng tiền trong lƣu thông đƣợc ngân hàng kiểm soát. Thông qua các khoản mục của NHTM, NHTW sẽ xác định đƣợc lƣợng tiền mặt đang lƣu thông trong nền kinh tế, từ đó để có các biện pháp kiểm soát nhằm đề phòng và hạn chế những ảnh hƣởng xấu có thể xảy ra. Trƣờng hợp nếu xảy ra lạm phát thì bằng các nghiệp vụ của mình, NHTW sẽ tiến hành Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 9 điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu hoặc tái chiết khấu, tham gia vào thị trƣờng mở để tác động tới NHTM qua đó làm thay đổi lƣợng tiền trong lƣu thông. Ngân hàng là cầu nối nền tài chính quốc gia và quốc tế, thúc đẩy phát triển thương mại quốc tế.
Trong bối nền kinh tế thế giới hội nhập, NHTM cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc đƣa nền kinh tế của quốc gia mình hội nhập với nền kinh tế thế giới. NHTM là cầu nối giữa nền kinh tế tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Bằng các hoạt động của mình nhƣ tài trợ xuất nhập khẩu, thực hiện các hình thức thanh toán, bảo lãnh, huy động vốn nƣớc ngoài, đã góp phần thúc đẩy việc luân chuyển hàng hoá dịch vụ giữa các quốc gia với nhau một cách thuận lợi và nhanh chóng. Các hoạt động cơ bản của NHTM - Hoạt động huy động vốn: NHTM muốn tồn tại và phát triển đƣợc phải có nguồn vốn.
Nguồn vốn của ngân hàng bao gồm: a.Vốn tự có: Vốn tự có của NHTM bao gồm vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và một số tài sản nợ khác theo quy định của NHTW. Vốn tự có thƣờng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng. Vốn huy động: Huy động vốn nhàn rỗi là một trong những hoạt động quan trọng hàng đầu của NHTM. Nó tạo ra nguồn vốn chủ lực trong kinh doanh.
NHTM thƣờng huy động vốn nhàn rỗi của xã hội qua các hình thức nhận tiền gửi và phát hành các chứng từ có giá.