phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 02 chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận và thực trạng dạy học đàn phím điện tử hệ Trung cấp Mầm non, trƣờng ĐH Hạ Long. Chƣơng 2: Biện pháp dạy học đệm hát trên đàn phím điện tử 12 Chƣơng 1 LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG DẠY HỌC ĐÀN PHÍM ĐIỆN TỬ HỆ TRUNG CẤP MẦM NON, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HẠ LONG 1. Khái niệm dạy học đàn phím điện tử Dạy học đàn phím điện tử có nhiều cách hiểu, giải thích. Trong nội dung này, ngƣời viết luận văn trình bày một số khái niệm về dạy học, đàn phím điện tử, đây là hai nội dung chủ đạo để dẫn đến khái niệm đƣợc tích hợp từ 2 khái niệm trên: dạy học đàn phím điện tử.
Điều này xuất phát từ tính đặc thù của quá trình dạy học nhạc đàn với đặc điểm, phƣơng pháp tổ chức khác biệt so với các ngành đào tạo thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn. Dạy học Dạy học là quá trình hoạt động chủ đạo trong nhà trƣờng bao gồm hai chủ thể: ngƣời dạy và ngƣời học. Ở ý nghĩa chung nhất, 2 tác giả Nguyễn Sinh Huy và Nguyễn Văn Lê đƣa ra khái niệm: “xét theo quan điểm tổng thể dạy học chính là con đƣờng giáo dục (hiểu theo nghĩa tổng quát) tiêu biểu nhất” [9, tr. Điều này đƣợc hiểu dạy học bao gồm những hoạt động đƣợc tổ chức chặt chẽ, đúng trình tự, phân bổ nội dung dạy học theo chiều thời gian (gọi là kỳ học, năm học).
Nhƣ vậy, quá trình dạy học biểu hiện qua hai hoạt động đặc trƣng cơ bản: hoạt động dạy và hoạt động học. - Hoạt động dạy: Luôn tồn tại trong môi trƣờng, tiêu biểu là nhà trƣờng với những quy chuẩn về sƣ phạm, tổ chức, quản lý, còn gọi là quy trình đào tạo, điều này khác với cách dạy truyền nghề, bảo ban trong các cộng đồng xã hội. Mặc dù, tính phổ biến của phƣơng thức truyền nghề vẫn tồn tại bằng nhiều hình thái lao động thủ công nhƣ: thêu ren, rèn sắt, dệt cửi, làm nón., nhằm hƣớng tới sự hoàn thiện kỹ năng, kỹ xảo một loại hình nghề nghiệp nào đó. Cách truyền dạy này phụ thuộc rất lớn vào kinh nghiệm cá nhân với kiến thức thực tế phong phú, lâu năm trong nghề.
Khác 13 biệt với truyền nghề, hoạt động dạy đƣợc tổ chức chặt chẽ trong không gian, điều kiện của cơ sở đào tạo (còn gọi là phƣơng thức nhà trƣờng), mục đích trang bị hệ thống kiến thức đƣợc tổng kết thành quy luật, định lý mang tính khoa học, logic. Do đó, dạy học theo quan điểm hiện đại gồm hai chủ thể nhận thức: ngƣời dạy và ngƣời học. Trong đó, ngƣời dạy là chủ thể toàn bộ quá trình hoạt động dạy với ý nghĩa hƣớng dẫn, xác định cụ thể từng nội dung tri thức nhân loại theo tiến trình thời gian môn học để ngƣời học tiếp nhận bằng những phƣơng pháp học tập khác nhau. Ví dụ: khi dạy lý thuyết thƣờng tổ chức trong phạm vi lớp học hoặc giảng đƣờng, còn dạy thực hành có xu hƣớng tiếp cận thực tế với các thao tác hoàn thiện kỹ năng, kỹ xảo.
Lê Văn Hồng nêu khái niệm dạy: “khi tiến hành hoạt động dạy, thày giáo không nhằm phát triển chính mình, mà nhằm tổ chức tái tạo nền văn hóa xã hội, nhằm tạo ra cái mới trong tâm lý học sinh” [8, tr. Khái niệm trên chỉ rõ vai trò ngƣời dạy bắt buộc phải tổng hợp những tri thức mà nhân loại đã tích lũy trƣớc đó thông qua nguồn tài liệu khoa học do các tác giả chuyên sâu công bố, xuất bản. Từ đó hình thành bài giảng, giáo án, giáo trình để đƣa vào hoạt động dạy với ý nghĩa hệ thống hóa tri thức vừa đảm bảo tính truyền thống, mặt khác giúp ngƣời học tiếp cận nhanh chóng, đầy đủ những phát minh, sáng tạo mới nhất, hiện đại nhất trong xã hội hiện nay. Do đó, hoạt động dạy cần đến tƣ duy trình độ cao (Đại học, Thạc sĩ, Tiến sĩ) để hình thành những chuyên gia, chuyên sâu trong một chuyên môn hẹp của từng lĩnh vực khoa học.
Điều này rất chính xác khi đối chiếu vào dạy các chuyên ngành biểu diễn âm nhạc nhƣ: giáo viên dạy thanh nhạc sẽ gặp khó khăn, hoặc không thể thực hiện đƣợc nếu phân công dạy nhạc đàn và ngƣợc lại. Vai trò ngƣời dạy trong các loại hình nghệ thuật đƣợc xác định cụ thể, chi tiết bởi tính chuyên môn hóa cao, thông qua sản phẩm là công trình nghiên cứu, bài viết khoa học đăng trên các tạp chí uy tín thuộc từng lĩnh vực, ngành chuyên biệt. Với một số khái niệm và dẫn giải nêu trên cho 14 thấy ngƣời dạy đƣợc hiểu là giáo viên, giảng viên trong các cơ sở đào tạo (không phải dạy học ở trƣờng phổ thông) với mục đích để ngƣời học lĩnh hội những tri thức nghề trình độ Trung cấp, Cao đẳng và Đại học ngày càng chuyên sâu. - Hoạt động học: cùng với quá trình dạy của giảng viên là hoạt động học tập của SV, là hoạt động đặc thù của con ngƣời, là quá trình lĩnh hội tri thức, rèn kĩ năng bằng nhiêu cách thức, Phƣơng pháp khác nhau.
Hiện nay, ở Việt Nam và một số nƣớc khác vẫn phổ biến lời dạy của Lê Nin: Học, học nữa, học mãi với quan điểm học tập suốt đời, học mọi nơi, mọi lúc. Trong môi trƣờng giáo dục, đối tƣợng học luôn là chủ thể tiếp nhận tri thức từ ngƣời dạy một cách chủ động, điều này khác với cách học thụ động theo kiểu truyền nghề bằng kinh nghiệm. Khi là chủ thể nhận thức, ngƣời học đƣợc trang bị, phƣơng pháp và tổ chức cách học nhằm có thể tiếp nhận kiến thức một cách đa dạng nhƣ: ngoài việc đƣợc giảng viên dạy trên lớp, ngƣời học có thể tạo thành nhóm học tập kết hợp với tự học, tự rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo cá nhân. Điều này hoàn toàn đúng đối với cách học đàn phím điện tử.
Lê Văn Hồng nêu quan niệm học tập: “hoạt động học là hoạt động đặc thù của con ngƣời đƣợc điều khiển bởi mục đích tự giác là lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những hình thức hành vi và cả những dạng hoạt động nhất định” [8, tr. Tuy vậy, sự khác biệt giữa học theo lối truyền nghề khác với học trong môi trƣờng đào tạo chuyên sâu qua những biểu hiện đặc trƣng cơ bản nhằm xác định cụ thể của hoạt động học: + Khi đối tƣợng chủ đạo của hoạt động học là hệ thống kiến thức thì mục đích của ngƣời học là sử dụng các phƣơng pháp, cách học phù hợp với bản thân để lĩnh hội tối đa tri thức trong khoảng thời gian ngắn nhất. Do đó, vấn đề chính của hoạt động học là quá trình tự học, tự nhận thức từng cá nhân. Thực tế cho thấy mỗi cá nhân đều phát huy cơ cấu tâm lý, tính tình, khả năng tiếp thu để tiến hành hoạt động học, nói cách khác không có sự 15 giống nhau theo kiểu khuôn mẫu khi áp dụng phƣơng pháp học tập.
Ví dụ: có SV rất thích học ban đêm và cho rằng học đêm tăng khả năng tập trung, không bị ảnh hƣởng tiếng ồn hoặc bị phân tâm bởi sinh hoạt thƣờng ngày. Với SV khác cho rằng học đêm không phù hợp vì mọi hoạt động diễn ra vào ban ngày, đêm dành cho ngủ, kết quả học tập tốt liên quan đến phân bổ thời gian giữa học, sinh hoạt và nghỉ ngơi. Điều này cho thấy, mỗi cá nhân cần xem xét vấn đề tự học vào khoảng thời gian phù hợp với bản thân để đạt hiệu quả học tập cao nhất. + Hoạt động học là hoạt động có ý thức chỉ có ở con ngƣời, bằng con đƣờng học tập, con ngƣời lĩnh hội tri thức nhân loại mang tính nối tiếp, liên tục.
Những kiến thức của thế hệ trƣớc đƣợc trao truyền cho thế hệ sau bằng học tập, sự kế thừa đó là một quá trình phát triển xã hội mang tính quy luật. Sự cộng hƣởng học tập sẽ tạo nên những tiến bộ nhanh hơn khi những phƣơng tiện khoa học, công nghệ, kỹ thuật hiện đại đóng vai trò ngày càng quan trọng, giúp ngƣời học sử dụng nhƣ một công cụ nhằm tìm hiểu, tham khảo, đánh giá những nội dung giảng dạy, kiến thức tiên tiến, từ đó rút ra các giá trị cho bản thân. Có thể nêu dẫn chứng, khi thế giới phát minh ra Internet và máy tính đã tạo nên sự biến đổi lớn lao trong dạy học hiện đại, trong đó ngƣời học sử dụng máy tính thành phƣơng tiện học tập kết nối Internet nhằm tiếp nhận lƣợng tri thức nhiều hơn, đa dạng hơn. Đây đƣợc gọi là cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ tại các nƣớc có trình độ học tập hiện đại.
Tóm lại, dạy học trong nhà trƣờng đƣợc tổ chức chặt chẽ, có quy trình và tiêu chuẩn chuẩn mực (còn gọi là trƣờng quy), điều này khác với dạy học kiểu truyền nghề bằng kinh nghiệm trong dân gian ở Việt Nam. Từ những quan điểm về hoạt động dạy và hoạt động học nêu trên cho thấy dạy học luôn gắn liền với quy trình, tổ chức hoạt động trong nhà trƣờng nhằm đạt mục đích của giáo dục, đó là đào tạo con ngƣời bằng những phƣơng 16 pháp sƣ phạm vừa mang tính tổng thể, vừa mang tính đặc thù đƣợc Phạm Viết Vƣợng dẫn giải qua khái niệm dạy học: “Dạy học là một bộ phận của quá trình sƣ phạm tổng thể, là một trong những con đƣờng để thực hiện mục đích giáo dục. Quy trình dạy học đƣợc tổ chức trong nhà trƣờng bằng phƣơng pháp sƣ phạm đặc biệt” [43, tr. Đàn phím điện tử Sự xuất hiện một loại nhạc khí ứng dụng công nghệ kỹ thuật số tiên tiến, hiện đại với tên gọi đàn Electronic Keyboard trên thế giới đã làm thay đổi các hình thái biểu diễn âm nhạc chuyên nghiệp, điển hình là các ban nhạc điện tử với cách hiểu là sử dụng 100% nhạc khí điện tử tạo âm thanh khi biểu diễn.
Khi thâm nhập vào Việt Nam, vào giai đoạn đầu đàn Electronic Keyboard đƣợc gọi một cách ngắn gọn, phổ thông là đàn organ bởi những âm thanh đầu tiên đƣợc mô phỏng nhiều nhất là tiếng organ. Đến nay, đàn Electronic Keyboard đƣợc phiên âm theo tiếng Việt là đàn phím điện tử với 2 dòng đàn chính: thứ nhất là loại: Arrange Keyboard dành cho các nhà soạn nhạc, nghệ sĩ chuyên nghiệp biểu diễn. Đây là loại đàn thƣờng không có loa, âm thanh do tín hiệu điện tử theo các đƣờng truyền (giắc cắm) hoặc Midi (Musiccal Instrumental Digital Interface) (tạm dịch: giao tiếp khí nhạc bằng kỹ thuật số) đƣợc amply khuếch đại ra loa.