Chương 1: Cơ lý luận về đào tạo cán bộ, công chức. Chương 2: Thực trạng đào tạo cán bộ, công chức tại Ủy ban nhân dân thành phố Thanh Hóa. Chương 3: Một số giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ, công chức tại Ủy ban nhân dân thành phố Thanh Hóa. CƠ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 1.
Một số khái niệm 1. Khái niệm cán bộ, công chức Cán bộ công chức là những thuật ngữ cơ bản của chế độ công vụ, công chức, thường xuyên xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong khoa học hành chính, theo các cách tiếp cận khác nhau, người ta đã đưa ra những cách giải thích khác nhau về các thuật ngữ “cán bộ”, “công chức”. * Khái niệm cán bộ Theo cách hiểu thông thường, cán bộ là những người thoát ly, làm việc trong bộ máy chính quyền, Đảng, đoàn thể, quân đội.
Hiện nay, từ cán bộ được dùng với nhiều nghĩa khác nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra khái niệm cán bộ trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời, đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”. Thực tế là, mọi chủ trương, đường lối của Đảng và Chính phủ đều do cán bộ nghiên cứu, đề xuất, đồng thời cũng do cán bộ tổ chức, hướng dẫn nhân dân thực hiện.
Do đó đường lối của Đảng đúng hay sai, tổ chức thực hiện thành hay không đều phụ thuộc vào cán bộ. Ngày 13/11/2008, Quốc hội đã ban hành Luật Cán bộ, công chức, theo đó tại Điều 4 quy định:Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Như vậy, tiêu chí xác định cán bộ sẽ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ. Những người đủ các tiêu chí chung của CBCC mà được tuyển vào làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội thông qua bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ chức danh theo nhiệm kỳ thì được xác định là cán bộ.
* Khái niệm công chức 8 Công chức là khái niệm được dùng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới nhưng được hiểu không giống nhau, thậm chí ngay trong phạm vi một quốc gia quan niệm về công chức qua các thời kỳ cũng khác nhau. Tuy vậy, nhìn chung thì tại một số nước, công chức được hiểu là những công dân được tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công của Nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước, được xếp vào một ngạch và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Tại Nghị định số 169/HĐBT ngày 25/5/1991 về công chức nhà nước, Thuật ngữ công chức được quy định như sau: “Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong công của nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp gọi là công chức”.Tuy nhiên tại Điều 2 Nghị định này, khi quy định những đối tượng là công chức và không phải là công chức thì lại có một số đối tượng như công an, những người làm nghiên cứu khoa học, giáo viên, nhà báo, nghệ sỹ…chưa được xếp vào loại nào. Trước đòi hỏi của tình hình mới, ngày 13/11/2008 tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật Cán bộ, công chức.
Luật Cán bộ, công chức ra đời nhằm đẩy mạnh cải cách hành chính, hoàn thiện thể chế công vụ, xác định đúng vị trí và địa vị pháp lý của cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước trở thành “công bộc của dân”. Theo đó, tại Khoản 2, Điều 4 của Luật này nêu rõ: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Đến ngày 25/01/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 06/2010/NĐ- CP về việc quy định những người là công chức, theo đó, tại Điều 2 đã nêu căn cứ xác định công chức như sau: 9 Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Nghị định này. Như vậy, qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, khái niệm công chức đã được định nghĩa để phù hợp với tình hình thực tế của từng thời kỳ.Theo đó, công chức là những người được tuyển dụng vào làm việc tại các như Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Nội vụ, Lao động Thương binh và xã hội,… hưởng lương từ ngân sách nhà nước, được xếp vào ngạch và đang công tác tại các phòng, ban của sở.
Khái niệm đào tạo cán bộ, công chức Thuật ngữ "đào tạo", hiện nay được sử dụng rộng rãi và có nhiều tác giả đưa ra những quan điểm khác nhau về đào tạo. Tuy nhiên, có thể tổng hợp khái niệm đào tạo theo hai cách hiểu cơ bản như sau: Cách hiểu thứ nhất, đào tạo vừa thực hiện những nhiệm vụ của giáo dục quốc dân - tổ chức đào tạo các trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học; vừa tổ chức cập nhật kiến thức, trang bị kỹ năng, phương pháp làm việc cho cán bộ, công chức. Cách hiểu thứ hai, đào tạo là hoạt động thường xuyên của các cơ quan, đơn vị quản lý và sử dụng công chức nhằm cập nhật kiến thức, trang bị kỹ năng, phương pháp làm việc. Như vậy, vẫn có nhiều cách giải thích khác nhau về khái niệm đào tạo cán bộ, công chức, do đó cần có một cách tiếp cận sát với thực tế về khái niệm này: - Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia đã đưa ra khái niệm: “Đào tạo: Làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định”.
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Đào tạo là quá trình tác động đến con người, nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… một cách có hệ thống, chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào phát triển xã hội, duy trì và khai hóa nền văn minh loài người”. 10 -Theo Khoản 1, Điều 5, Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về đào tạo công chức (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/05/2010) đã giải thích: “Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học”. Như vậy, trong khái niệm này, “đào tạo” là một quá trình tác động qua lại giữa hai chủ thể: Chủ thể “truyền thụ” và chủ thể “tiếp nhận”. Thông qua quá trình đó làm cho người được đào tạo có kiến thức chuyên môn, nghề nghiệp, kỹ năng nghiệp vụ theo tiêu chuẩn nhất định do yêu cầu, đòi hỏi của công việc.
Đào tạo CBCC giúp họ đạt được những yêu cầu về kiến thức chuyên môn, nghề nghiệp, kỹ năng nghiệp vụ theo tiêu chuẩn chung đối với từng ngạch, bậc hành chính của từng công chức và phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của từng chức danh, công việc mà CBCC đảm nhiệm trong các cơ quan, đơn vị. Đào tạo CBCC nói chung chỉ giới hạn trong phạm vi điều chỉnh của Luật Cán bộ, công chức và một số văn bản pháp luật có liên quan; được tiến hành chủ yếu ở các cơ đào tạo cán bộ, công chức của Đảng và Nhà nước: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; các Học viện, Trường, Trung tâm đào tạo công chức của các Bộ, Ban, ngành; các Trường Chính trị, trung tâm bồi dưỡng chính trị trong cả nước. Như vậy, có thể hiểu đào tạo CBCC là quá trình truyền thụ kiến thức, kỹ năng về chuyên môn, nghiệp vụ dưới các hình thức khác nhau cho CBCC nhằm nâng cao chất lượng cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu của từng giai đoạn phát triển. Vai trò và nguyên tắc của đào tạo cán bộ, công chức 1.
Vai trò của đào tạo cán bộ, công chức Đào tạo công chức, đào tạo cán bộ, công chức là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa quan trọng, góp phần tích cực trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực công tác, chất lượng và hiệu quả làm việc của đào tạo cán bộ, công chức. Vai trò của đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức thể hiện ở những mặt sau: Thứ nhất, nâng cao hiệu quả thực thi công vụ. Trong quá trình làm việc, cùng với sự thay đổi ngày càng mạnh mẽ về yêu cầu chất lượng công việc; sự phát triển của khoa học, công nghệ,. đòi hỏi mỗi đào tạo cán bộ, công chứcphải 11 hoàn thiện bản thân, nâng cao lý luận cơ bản, cập nhật tri thức mới và kỹ năng để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
Thứ hai, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Để nâng cao chất lượng đội ngũ công chức đào tạo cán bộ, công chức có hai con đường là: tuyển dụng và đào tạo.