Đặt vấn đề Trong nhiều năm gần đây, tài nguyên rừng nhiệt đới ngày càng bị suy giảm nghiêm trọng, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sinh thái môi trường và đời sống của người dân. Trên thế giới trung bình hàng năm rừng nhiệt đới mất đi khoảng 11 triệu ha. Mất rừng để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng như hạn hán, lũ lụt thường xuyên xảy ra, nguồn nước ngọt đang dần bị cạn kiệt, nạn ô nhiễm môi trường cũng đang là vấn đề bức thiết ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của con người. Ngày nay biến đổi khí hậu là vấn đề của toàn nhân loại chứ không chỉ riêng của bất cứ một quốc gia nào, chúng ta đang phải trả giá cho những hành động phá rừng, khai thác quá mức, cháy rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp.
Theo nhận định của Hội thảo khoa học về biến đổi khí hậu toàn cầu (Hà Nội, 10/2009) [10] cho rằng Việt Nam là một trong năm nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do biến đổi khí hậu gây ra. Nhằm đẩy nhanh tốc độ phục hồi rừng, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách, áp dụng nhiều giải pháp, đầu tư nhiều chương trình, dự án trồng rừng. Kết quả diện tích rừng ở nước ta đã tăng lên từ 12,1triệu ha (2004) lên 13,12triệu ha rừng (2008), độ che phủ 39,1% (Bộ NN & PTNT, 2010) [11], đáp ứng nhu cầu về lâm sản, môi trường sinh thái và cảnh quan du lịch. Tuy nhiên, sự quan tâm của chúng ta trong thời gian qua tập trung nhiều vào 2 đối tượng là rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, rừng trồng sản xuất (RTSX) chưa được quan tâm chú ý nhiều và thực tiễn sản xuất hiện nay đang đặt ra rất nhiều vấn đề cần phải có lời giải đáp, cả về kỹ thuật, kinh tế, chính sách và thị trường, gây ảnh hưởng trực tiếp tới người trồng rừng.
Xuất phát từ thực trạng tài nguyên rừng ngày càng suy giảm ở nước ta và khả năng quỹ đất e 2 dành cho phát triển rừng, cùng với những đòi hỏi phải thực hiện môi trường quốc gia về sinh thái, môi trường, kinh tế - xã hội, Chính phủ Việt Nam đã có rất nhiều dự án về phát triển rừng mà gần đây nhất là chương trình 327 phủ xanh đất trống đồi núi trọc, Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng. Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng đặt ra nhiệm vụ phải trồng 3 triệu ha rừng sản xuất (RSX) giai đoạn 1998 - 2010, tuy nhiên cho đến nay việc triển khai thực hiện công tác này chưa đạt được kế hoạch đặt ra. Chính vì vậy, Chính phủ đã chỉ đạo trong thời gian tới cần tập trung đẩy mạnh phát triển trồng RSX. Văn Chấn là huyện miền núi vùng cao, việc đưa những loại cây trồng trên đất lâm nghiệp có giá trị kinh tế phù hợp với điều kiện địa lý, thổ nhưỡng là rất cần thiết.
Trong những năm gần đây công tác trồng rừng trên địa bàn huyện Văn Chấn đã đẩy mạnh vận động nhân dân trồng rừng. Diện tích rừng trồng ngày càng tăng. Đến năm 2013, toàn huyện đã trồng mới được 3.537ha, trong đó: Trồng rừng sản xuất của các doanh nghiệp, tổ chức: 450ha, rừng kinh tế: 700ha, trồng cây phân tán, cây lâm nghiệp xã hội; 2. Với những cây chính như: Cây Keo tai tượng,, bạch đàn, bồ đề.
Công ty lâm nghiệp Ngòi Lao là một đơn vị kinh tế quốc doanh lâm nghiệp, được nhà nước giao nhiệm vụ quản lý kinh doanh rừng và đất rừng trên địa bàn 8 xã thuộc vùng ngoài của huyện Văn Chấn với tổng diện tích trên 31. Để đánh giá tính hiệu quả nhằm phát huy những điểm mạnh và khắc phục những điểm hạn chế trong công tác phát triển rừng trồng tại công ty để làm cơ sở cho việc phát triển rừng trồng nói chung của huyện Văn Chấn, đề tài “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển rừng trồng cây Keo tai tượng tại công ty Lâm nghiệp Ngòi Lao huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái” là hết sức cần thiết và cấp bách nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, góp e 3 phần tích cực trong việc nâng cao đời sống cho người dân và góp phần quan trọng việc xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay. Mục đích nghiên cứu Đánh giá được thực trạng công tác trồng và phát triển cây Keo tai tượng của công ty để từ đó đề xuất các giải pháp phát triển rừng trồng cây Keo tai tượng tại công ty nói riêng và huyện Văn Chấn nói chung góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của người trồng rừng. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá được thực trạng phát triển rừng trồng Keo tai tượng tại công ty lâm nghiệp Ngòi Lao - Xác định được các yếu tố thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển rừng trồng Keo tai tượng tại địa bàn nghiên cứu - Đề xuất được một số giải pháp phát triển rừng trồng cây Keo tai tượng tại đây.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập - Việc nghiên cứu đề tài có ý nghĩa to lớn trong việc áp dụng lý thuyết đã học vào thực tiễn, đây là một phương pháp hệ thống củng cố những kiến thức đã học. - Củng cố được kiến thức cơ sở cũng như chuyên ngành, sau này có điều kiện tốt hơn để phục vụ công tác phát triển ngành lâm nghiệp. - Giúp cho sinh viên bước đầu làm quen, hiểu thêm về kiến thức cho công tác điều tra ngoài thực tế, vận dụng cả lý thuyết và thực hành nhằm đạt kết quả và chất lượng cao trong quá trình học tập tại trường.
Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học - Tạo điều kiện cho sinh viên được tiếp xúc, làm quen với thực tế công tác nghiên cứu khoa học. e 4 - Góp phần hoàn chỉnh dữ liệu khoa học về việc nghiên cứu chuyên sâu loài cây Keo tai tượng. - Qua kết quả nghiên cứu làm cơ sở khoa học để lựa chọn các giải pháp phát triển loài Keo tai tượng. Ý nghĩa thực tiễn Biết được thực trạng phát triển của loài Keo tai tượng để từ đó đưa ra các giải pháp phát triển cho loài cây trông Keo tai tượng nói riêng và rừng trồng nói chung e 5 Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở khoa học Trong cùng một điều kiện khí hậu, đất là nhân tố quyết định đến sự phân bố sinh trưởng, phát triển, cấu trúc sản lượng rừng và tính ổn định của rừng. Độ phì của đất còn ảnh hưởng nhiều mặt đến dời sống của rừng. Đá mẹ là cơ sở vật chất đầu tiên hình thành đất, có ảnh hưởng trực tiếp đến đặc điểm sinh lý học và hóa học của đất, thông qua đó ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của rừng giống và giống. Đặc tính lý học của đất ảnh hưởng đến tình hình không khí và khả năng cung cấp nước của đất cho cây trồng.
Chế độ nước và chế độ không khí thường mâu thuẫn với nhau và có liên quan chặt chẽ đến chế độ nhiệt trong đất. Trong điều kiện nhiệt đới nước ta mưa nhiều, xói mòn mạnh, địa hình đồi núi nên độ sâu tầng đất có ảnh hưởng quyết định đến phân bố, hình thái và sự phát triển của bộ rễ, thông qua đó ảnh hưởng tới ổn định của tình hình sinh trưởng rừng. Ngược lại rừng ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành đất, rừng ảnh hưởng đến các đặc tính lí học của đất và sinh vật đất. Vật rơi rụng và rễ chết trong đất là lượng sinh khối giữ vai trò quan trọng trong chu trình tuần hoàn dinh dưỡng, đây cũng là môi trường thuận lợi cho sinh vật đất phát triển.
Keo tai tượng là cây gỗ nhỡ sinh trưởng nhanh có nguồn gốc từ Úc được nhập vào nước ta từ những năm 1960, nhưng từ năm 1976 trở lại đây mới được phát triển rộng rãi ở nhiều vùng trong cả nước. Keo tai tượng là loài cây đa mục đích dễ gây trồng, có giá trị nhiều cả về mặt kinh tế lẫn phòng hộ bảo vệ môi trường. Đặc biệt trong chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng, Keo tai tượng là một trong những loài cây trồng chính để phủ xanh đất trống đồi núi trọc và cũng là những cây cung cấp nguyên liệu chủ yếu cho ngành công nghiệp lấy sợi trong những năm qua. Từ năm 1976 trở lại đây đã có rất nhiều e 6 công trình nghiên cứu về cây Keo tai tượng từ khảo nghiệm loài, khảo nghiệm xuất xứ và khảo nghiệm các dòng vô tính cho đến các nghiên cứu về lập địa gây trồng thích hợp, năng suất sinh khối, vv… Giống là một trong những khâu quan trọng nhất của quá trình sản xuất nông lâm nghiệp.
Nhờ có giống tốt và áp dụng các biện pháp kĩ thuật lâm sinh khác nhau mà năng suất các loài cây nông lâm nghiệp chủ yếu trong những năm qua đã tăng gấp đôi so với nhưng năm 1960. Trong lâm nghiệp cây rừng có đời sống dài ngày, khó có thể áp dụng các biện pháp thâm canh khác, việc tạo hoàn cảnh tối ưu cho cây phát triển chỉ có thể thực hiện ở giai đoạn vườn ươm và giai đoạn đầu sau khi trồng, muốn tăng năng suất rừng trồng phải sử dụng giống được cải thiện có năng suất cao và phù hợp với điều kiện hoàn cảnh. Vì thế công tác giống có vai trò rất quan trọng trong sản xuất lâm nghiệp, đặc biệt là trong việc tăng năng suất và chất lượng rừng trồng. Dù trồng rừng theo mục đích kinh tế hay mục tiêu phòng hộ đều phải có giống tốt theo mục tiêu đề ra.
Khảo nghiệm giống là biện pháp không thể thiếu trong đánh giá giá trị của giống được chọn tạo kể cả về năng suất, tính thích ứng sinh thái và khả năng chống chịu sâu bệnh. Khảo nghiệm giống có thể được thực hiện ở các mức độ khác nhau: từ khảo nghiệm loài, khảo nghiệm xuất xứ, đến khảo nghiệm hậu thế của các cây trội và khảo nghiệm dòng vô tính, cũng như khảo nghiệm các giống lai mới được chọn tạo. Khảo nghiệm giống không chỉ xác định giá trị di truyền và giá trị kinh tế của giống mà còn xác định vùng trồng thích hợp cho một giống mới được nhập hoặc mới được chọn tạo. Rừng giống Là rừng chuyên doanh để lấy giống được xây dựng bằng cách chuyển hoá từ rừng tự nhiên hoặc rừng trồng (gọi là rừng giống chuyển hoá) hoặc được gây trồng bằng nguồn giống của xuất xứ tốt nhất đã được công nhận hoặc bằng giống trộn lẫn của các cây trội.
e 7 Vườn giống: - Vườn giống lấy hạt: là vườn trồng các dòng vô tính (vườn giống vô tính) hoặc các cây hạt (vườn giống cây hạt) lấy giống từ các cây mẹ đã được chọn lọc và đánh giá.