ĐẶT VẤN ĐỀ Sốt xuất huyết Dengue là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, gây thành dịch, do 4 typ virus Dengue gây nên [4]. Bệnh cảnh lâm sàng của sốt xuất huyết rất phức tạp và đa dạng, từ sốt đơn thuần đến sốt xuất huyết Dengue, sốt xuất huyết Dengue có dấu hiệu cảnh báo và sốt xuất huyết Dengue nặng. Những biểu hiện lâm sàng hay gặp của bệnh sốt xuất huyết bao gồm: sốt, đau đầu, đau nhức hai hố mắt, đau mỏi cơ khớp, dấu hiệu xuất huyết dưới da, niêm mạc, có thể có sốc tuần hoàn, suy tạng. Các biểu hiện lâm sàng này khác nhau trên từng bệnh nhân, diễn biến bệnh cần được theo dõi, phát hiện sớm những biểu hiện nặng để điều trị kịp thời [1], [3],[6].
Bất chấp sự nỗ lực nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam về dịch tễ, cơ chế bệnh sinh, vaccin, thuốc điều trị… nhưng sốt xuất huyết hiện vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, vaccin chưa được sử dụng rộng rãi, dịch có xu hướng ngày càng phát triển. Vì thế cho đến hiện nay, sốt xuất huyết vẫn đang là một vấn đề thời sự [3]. Qua thực tiễn lâm sàng nhiều năm cho thấy: thuốc y học cổ truyền có hiệu quả trong điều trị sốt xuất huyết Dengue ở mức độ sốt xuất huyết Dengue (theo phân loại WHO - 2009). Với mong muốn tăng cường sử dụng và phát huy hiệu quả của thuốc y học cổ truyền trong điều trị sốt xuất huyết Dengue, chúng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá tác dụng của bài thuốc số 2 gia giảm trong hỗ trợ điều trị sốt xuất huyết Dengue có dấu hiệu cảnh báo” với mục tiêu: 2 1.
Đánh giá tác dụng của bài thuốc số 2 gia giảm trên lâm sàng, cận lâm sàng và cải thiện chất lượng cuộc sống trong hỗ trợ điều trị sốt xuất huyết Dengue có dấu hiệu cảnh báo. Theo dõi tác dụng không mong muốn của bài thuốc 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 TỔNG QUAN Y HỌC HIỆN ĐẠI VỀ BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT 1. Tình hình dịch tễ bệnh sốt xuất huyết 1.1 Tình hình bệnh sốt xuất huyết trên thế giới Bệnh sốt xuất huyết Dengue được biết từ rất sớm trong lịch sử. Bệnh được mô tả lần đầu tiên ở Trung Quốc khoảng năm 265 – 420 sau công nguyên là bệnh “Nước độc” do côn trùng bay gần nước truyền bệnh.
Năm 1653, một vụ dịch giống sốt xuất huyết Dengue đã bùng phát và được ghi nhận tại Tây Ấn Độ thuộc Pháp [1], [2]. Đến năm 1944, căn nguyên gây sốt xuất huyết Dengue mới được phát hiện. Vụ dịch được khẳng định là sốt xuất huyết đầu tiên ở châu Á là vụ dịch xảy ra tại Philippin vào năm 1953-1954. Từ đó, dịch sốt xuất huyết xảy ra ở hầu hết các nước Đông Nam Á với tỉ lệ tử vong cao [1], [2].
Hiện nay virus Dengue lưu hành và gây dịch chủ yếu ở vùng nhiệt đới như Đông Nam Á, Tây Thái Bình Dương, châu Phi, châu Mỹ, Địa Trung Hải [2]. Sốt xuất huyết Dengue có mặt ở khắp nơi trên thế giới và mỗi vùng trên thế giới phải gánh chịu gánh nặng bệnh tật do sốt xuất huyết Dengue khác nhau. Châu Á Thái Bình Dương là khu vực chịu ảnh hưởng của sốt xuất huyết Dengue lớn nhất [1], [2]. Theo Tổ chức Y tế thế giới, sốt xuất huyết là một trong những bệnh do muỗi truyền có khả năng lây lan nhanh nhất.
Tỉ lệ mắc mới của sốt xuất huyết đã tăng gấp 30 lần trên toàn cầu trong vòng 50 năm qua. Sự biến đổi khí hậu, môi trường ô nhiễm, định cư đô thị không có quy hoạch và tốc độ đô thị hóa nhanh chóng có thể dẫn tới gia tăng muỗi sinh sản, đặc biệt tại các khu vực đô thị và bán đô thị [2], [3] Dịch bệnh sốt xuất huyết là không thể tránh khỏi, nhưng các quốc gia có thể hành động để làm giảm thiểu đáng kể quy mô, tần suất và sự tác động của dịch bệnh. Tình hình bệnh sốt xuất huyết tại Việt Nam Năm 1958, lần đầu tiên bệnh sốt xuất huyết Dengue được Chu Văn Tường và cộng sự mô tả trên 68 bệnh nhi tại phía bắc Việt Nam [28], [35]. Những năm gần đây, bệnh sốt xuất huyết Dengue đã lan rộng trên toàn quốc và trở thành dịch hàng năm, với sự tăng nhanh về số lượng người mắc cũng như mức độ nặng của bệnh, đặc biệt là các tỉnh phía nam [5], [28].
Bệnh sốt xuất huyết ở Việt Nam phát triển theo mùa và cũng có sự khác biệt giữa các miền: ở miền bắc, dịch bệnh thường phát triển mạnh nhất vào khoảng từ tháng 6 đến tháng 11, sau đó bị gián đoạn do mùa đông lạnh; miền nam và miền trung, bệnh xuất hiện quanh năm, đặc biệt là khu vực đồng bằng sông Cửu Long thường là điểm nóng của các đợt dịch [20]. Theo Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế, trong năm 2017, ngành y tế Việt Nam chứng kiến sự bùng phát của dịch sốt xuất huyết khi chưa vào mùa cao điểm. Cả nước ghi nhận 183.287 trường hợp mắc (154.552 nhập viện), 30 trường hợp tử vong. Tại Hà Nội, số ca mắc tăng gấp 7 lần so với cùng kỳ năm 2016 với gần 25 nghìn người mắc bệnh, 07 người tử vong [29].
Nguyên nhân sốt xuất huyết Virus Dengue thuộc nhóm Flavirius, họ Flaviridae, loài Arbor virus. Virus Dengue hình cầu, đường kính 35-50nm, đối xứng hình khối, chứa 1 sợi ARN [5], [6]. Virus Dengue có 4 typ huyết thanh: DEN-1, DEN-2, DEN-3, DEN-4. Có hiện tượng ngưng kết chéo giữa các typ huyết thanh.
Tại Việt Nam, trong những năm qua, có sự lưu hành của cả 4 typ virus Dengue, tuy nhiên phổ biến hơn cả là virus Dengue typ 2 [5], [7] 5 1. Đường lây truyền Hình 1. Sơ đồ lây truyền bệnh Sốt xuất huyết Dengue Trong dây chuyền dịch tễ bệnh sốt xuất huyết dengue, người bệnh và các động vật linh trưởng là nguồn bệnh, tuy nhiên chỉ có con người biểu hiện bệnh. Côn trùng trung gian truyền bệnh chính là muỗi Aedes aegypti, ngoài ra muỗi Aedes albopictus cũng có khả năng truyền bệnh [2], [5].
Muỗi Aedes aegypti cái đốt vào ban ngày, chủ yếu vào sáng sớm và chiều tối. Sau khi hút máu nhiễm virus Dengue từ 8 đến 11 ngày, có thể dài hơn tùy theo số lượng virus và nhiệt đột môi trường, muỗi Aedes aegypti có thể lây bệnh cho vật chủ. Các virus Dengue được truyền sang người qua vết đốt của muỗi nhiễm bệnh, chủ yếu là muỗi Aedes aegypti. Nếu không có cơ hội truyền bệnh, virus tiếp tục phát triển trong ống tiêu hóa và tuyến nước bọt của muỗi và chờ dịp truyền sang người khác [1], [5].
Muỗi Aedes aegypti phân bố khắp thế giới, chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Muỗi Aedes đẻ trứng, sau đó trứng phát triển thành bọ gậy. Bọ gậy thường sống trong các dụng cụ chứa nước gia đình hay ở ngoài nhà như rãnh nước, ao hồ. Mật độ muỗi thường tăng vào mùa mưa.
Điều này có nghĩa là trong môi trường tự nhiên, con người chính là nguồn di chuyển virus Dengue ra cộng đồng [1], [5]. Cơ chế bệnh sinh Sau khi muỗi đốt, virus Dengue xâm nhập cơ thể và nằm trong các tế bào đơn nhân lớn. Các đại thực bào này tập trung nhiều ở hạch bạch huyết khu vực, trong các tế bào Kupffer và mảng Payer. Cơ thể xuất hiện phản ứng chống lại các đại thực bào bị nhiễm virus, qua cơ chế kết hợp kháng nguyên – kháng thể và kích thích quá trình hoạt hóa bổ thể [5].
Từ đó dẫn đến 3 rối loạn sinh bệnh học chủ yếu sau: Hiện tượng phá hủy tế bào xương: giảm bạch cầu và tiểu cầu là biểu hiện thường gặp trong sốt xuất huyết Dengue. Đó là kết quả tác động trực tiếp của virus Dengue trên các tế bào tiền thân tủy xương. Sự phá hủy tủy xương của virus Dengue được cho là có liên quan với biểu hiện đau xương, khớp [1], [5]. Hiện tượng tăng tính thấm thành mạch: trong sốt xuất huyết Dengue có hiện tượng tăng tính thấm thành mạch dẫn đến tới thoát huyết tương.
Sự thoát huyết tương, chủ yếu là thoát albumin vào khoảng gian bào và các khoang màng phổi, khoang màng bụng, màng tinh hoàn. dẫn đến hiện tượng tràn dịch trên lâm sàng [1]. Rối loạn đông máu: có liên quan với giảm tiểu cầu và rối loạn các yếu tố đông máu. Tiểu cầu thường hạ vào ngày thứ 3 của bệnh và trở lại bình thường trong giai đoạn hồi phục.
Ngoài ra còn có hiện tượng giảm chức năng tiểu cầu và sự gia tăng sự phá hủy của tiểu cầu trưởng thành [1], [6]. Trong sốt xuất huyết, các yếu tố đông máu bị rối loạn bao gồm: thời gian prothrombin kéo dài, nồng độ fibrinogen giảm, giảm các yếu tố đông máu II, V, X và tăng nồng độ ezym của gan. Tất cả các yếu tố trên đều có liên quan đến tình trạng đông máu nội quản rải rác trong sốt xuất huyết Dengue [1], [6]. Các giai đoạn của bệnh sốt xuất huyết 1.
Nghiên cứu về điều trị sốt xuất huyết trên thế giới Theo Tổ chức Y tế thế giới, không có cách điều trị cụ thể cho bệnh sốt xuất huyết. Đối với bệnh sốt xuất huyết nặng, chăm sóc y tế của các bác sĩ, y tá có kinh nghiệm với các tác động và tiến triển của bệnh có thể cứu sống, giảm tỷ lệ tử vong từ trên 20% xuống dưới 1%. Duy trì thể tích dịch cơ thể của bệnh nhân rất quan trọng đối với việc chăm sóc sốt xuất huyết nghiêm trọng [1],[4]. Thuốc phòng sốt xuất huyết đầu tiên, Dengvaxia® (CYD-TDV) do Sanofi Pasteur phát triển đã được cấp phép vào tháng 12 năm 2015 và hiện đã được cơ quan quản lý ở 20 quốc gia chấp thuận sử dụng.
Tháng 4 năm 2016, WHO đã đưa ra một khuyến nghị về việc sử dụng vaccin cho các khu vực mà bệnh sốt xuất huyết có tính đặc hữu cao được xác định bởi tỷ lệ huyết thanh cao từ 70% trở lên. Tháng 11 năm 2017, theo kết quả của một phân tích bổ sung để xác định lại serostatus tại thời điểm tiêm chủng đã được phát hành cho thấy, nhóm nhỏ những người tham gia thử nghiệm có nguy cơ bị sốt xuất huyết và nhập viện nghiêm trọng hơn so với những người không được chủng 8 ngừa [4]. Vaccin sốt xuất huyết trực tiếp CYD-TDV đã được chứng minh trong các thử nghiệm lâm sàng là có hiệu quả và an toàn ở những người đã từng bị nhiễm virus sốt xuất huyết trước đó, nhưng tăng nguy cơ sốt xuất huyết nghiêm trọng ở những người bị sốt xuất huyết tự nhiên lần đầu tiên nhiễm sau khi chủng ngừa [4].