CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Lý luận về nghèo và giảm nghèo 1. Một số vấn đề về nghèo Có rất nhiều khái niệm về nghèo đói và đây là những khái niệm cơ bản. Tổ chức Y tế thế giới cho rằng “một người được coi là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm (PCI) của quốc gia”.
Hội nghị thượng đỉnh về chống nghèo đói của Uỷ ban Kinh tế xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương cho rằng: “nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận”. Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội (1995) cho rằng “người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la (USD) mỗi ngày mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”. Abapia Sen (1998) cho rằng “nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng”. Xét cho cùng sự tồn tại của con người nói chung và người giàu, người nghèo nói riêng, khác biệt cơ bản để phân biệt họ chính là cơ hội lựa chọn của mỗi người trong cuộc sống, thông thường người giàu có cơ hội lựa chọn nhiều hơn, người nghèo có cơ hội lựa chọn ít hơn.
Tại Việt Nam, giai đoạn 2011 - 2015 Chính phủ đã có Quyết định số: 09/2011/QĐ-TTg (Về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011- 2015), qua đó quy định như sau: - Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.000 đồng/người/năm) trở xuống. e 6 - Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000 đồng/người/năm) trở xuống. - Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng. - Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng/người/tháng.
Chính phủ đã có Quyết định số: 59/2015/QĐ-TTg Về việc ban hành chuẩn hộ nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016- 2020), qua đó quy định như sau: * Các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng - Các tiêu chí về thu nhập + Chuẩn nghèo: 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị. + Chuẩn cận nghèo: 1.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 1.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị. - Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản + Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch thông tinvà vệ sinh; + Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin. * Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng - Hộ nghèo + Khu vực nông thôn, là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 e 7 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
+ Khu vực thành thị, là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống;Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. - Hộ cận nghèo + Khu vực nông thôn, là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. + Khu vực thành thị, là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. - Hộ có mức sống trung bình + Khu vực nông thôn, là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.
+ Khu vực thành thị, là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1. Một số vấn đề về giảm nghèo Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tiếp cận tín dụng là điều kiện quan trọng để người nghèo tăng cường đầu tư cho sản xuất, trang trải chi phí học hành cho con cái… Nhờ đó, nâng cao thu nhập và có cơ hội thoát nghèo bền vững. Trong báo cáo Ngân hàng thế giới (2012) về đánh giá nghèo Việt Nam đã chỉ rõ vai trò của các chính sách tín dụng vi mô mà đặc biệt là tín dụng ưu đãi của Nhà nước đối với các hộ nghèo trong việc cung cấp nguồn vốn giá rẻ, thời gian cho vay dài đã góp phần không nhỏ vào cải thiện đời sống của người dân e 8 nghèo đặc biệt là những người dân sống tại vùng sâu vùng xa nơi mà tiếp cận tài chính còn nhiều khó khăn. Theo các nghiên cứu của Abdulai&CloreRees; Demuger và cộng sự 2010; Klasen và cộng sự 2013; Yu & Zhu 2013, thu nhập của hộ nông dân chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, bao gồm vốn, đất đai, học vấn, số lao động, khả năng đa dạng hóa thu nhập, cơ hội tiếp cận thị trường.
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa tín dụng và giảm nghèo ở một số quốc gia Châu Phi, các tác giả Yasmine F. Khandker (2005), đã khẳng định vai trò quan trọng của việc cấp tín dụng với những điều kiện ưu đãi cho người nghèo, đó là phương tiện để giúp họ thoát nghèo. Các nghiên cứu ở trong nước cũng cho kết quả tương tự. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Lan Duyên 2014 cho thấy các yếu tố như học vấn, lượng vốn vay, khoảng cách, lãi suất và số lao động có ảnh hướng đến thu nhập của nông dân ở An Giang Kết quả nghiên cứu của Chu thị Kim Loan và Nguyễn Văn Hướng 2015 cũng chi ra số lượng, trình độ học vấn, giới tính của chủ hộ , nguồn vốn cũng ảnh hướng đến thu nhập của nông hộ tại Thanh Hóa.
Người nghèo bị mắc kẹt trong một loạt các tình huống xã hội bất lợi: thu nhập thấp, giáo dục thấp, thiếu thốn nhà ở, sức khỏe yếu kém… Thu nhập thấp làm giảm khả năng tiếp cận nguồn lực như giáo dục, tín dụng, không có đủ lương thực và nước sạch cho sinh hoạt… vì thế không có đủ điều kiện để cải thiện thu nhập, họ rơi vào tình trạng đói nghèo, dẫn đến bệnh tật, suy dinh dưỡng và chết chóc; kết quả là kiệt quệ sức lao động và dẫn đến kinh tế gia đình càng suy giảm hơn, thu nhập càng thấp hơn. Để giúp người nghèo thoát khỏi vòng luẩn quẩn này thì quan trọng nhất là những khoản vay tín dụng, nó giúp người nghèo có vốn để tự sản xuất, nhờ đó đảm bảo tốt hơn những nhu cầu cơ bản như lương thực, nước sạch, cung cấp thuốc men hoặc dịch vụ khám chữa bệnh cho người nghèo sẽ giúp họ có e 9 sức khỏe tốt hơn, khỏe mạnh hơn để làm việc và nuôi sống bản thân, vượt qua khỏi vòng luẩn quẩn của bệnh tật, nợ nần và nghèo đói. Tín dụng đối với người nghèo là những khoản tín dụng chỉ dành riêng cho những người nghèo, có sức lao động, nhưng thiếu vốn để phát triển sản xuất trong một thời gian nhất định phải hoàn trả số tiền gốc và lãi; tùy theo từng nguồn có thể hưởng theo lãi suất ưu đãi khác nhau nhằm giúp người nghèo mau chóng vượt qua nghèo đói vươn lên hoà nhập cùng cộng đồng. Tín dụng đối với người nghèo hoạt động theo những mục tiêu, nguyên tắc, điều kiện riêng, khác với các loại hình tín dụng của các Ngân hàng thương mại.
Hầu hết các chương trình tín dụng cho người nghèo đều nhằm mục tiêu giúp người nghèo cải thiện mức sống, cụ thể như: cải thiện thu nhập, chi tiêu đời sống, nhà ở, cải thiện mức độ tiếp cận giáo dục, chăm sóc sức khỏe, môi trường sống… Tùy theo từng chương trình cho vay khác nhau mà mục tiêu cụ thể cũng khác nhau. Chương trình cho người nghèo vay vốn để phát triển nhà ở có mục tiêu là giúp người nghèo cải thiện nhà ở, môi trường sống; Chương trình cho người nghèo vay vốn để phát triển chăn nuôi có mục tiêu là để cải thiện thu nhập cho hộ nghèo; Chương trình cho học sinh, sinh viên nghèo vay vốn có mục tiêu là cải thiện khả năng tiếp cận giáo dục cho người nghèo, nâng cao trình độ và năng lực cho người nghèo. Nói tóm lại, mỗi chương trình cho vay đều có một mục tiêu riêng, nhưng chung quy đều nhằm giúp người nghèo cải thiện được cuộc sống trong hiện tại (trang trải cho những nhu cầu cơ bản nhất) và thoát nghèo bền vững trong tương lai (cải thiện thu nhập và tự trang trải cuộc sống trong tương lai). Tín dụng Ngân hàng 1.
Khái niệm về tín dụng Ngân hàng thương mại Tín dụng Ngân hàng thương mại là hình thức phản ánh quan hệ vay và trả nợ giữa một bên là các Ngân hàng, các tổ chức tín dụng và một bên là các hộ gia đình, cơ sở SXKD, các tầng lớp dân cư. Tín dụng Ngân hàng thương e 10 mại với đối tượng cho vay là tiền tệ do đó là hình thức tín dụng rất linh hoạt; chiều vận động của tín dụng Ngân hàng thương mại rất đa dạng do Ngân hàng có thể cho vay với mọi thành phần kinh tế, đáp ứng nhu cầu của khách hàng để trang trải chi tiêu trong gia đình với các món vay nhỏ hoặc các khoản vay lớn hơn để mở rộng SXKD, phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội. Tín dụng Ngân hàng thương mại là kênh cung cấp vốn chủ lực của nền kinh tế thị trường. Thông qua tín dụng Ngân hàng thương mại nhu cầu về vốn của nền kinh tế được cung ứng linh hoạt, kịp thời.
Tín dụng Ngân hàng thương mại bao gồm các chủ thể là Ngân hàng, nhà nước, doanh nghiệp và hộ dân cư.