Tổng quan nghiên cứu

Sự hình thành và phát triển của các công ty tài chính thuộc tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước bắt nguồn từ chủ trương tích tụ vốn và nâng cao sức cạnh tranh theo Quyết định số 90 và 91 năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ. Trong giai đoạn 1998–2010, đã có 12 công ty tài chính nhà nước được thành lập song hành cùng 6 công ty tài chính 100% vốn nước ngoài. Đến trước thời điểm tháng 6 năm 2012, khối công ty tài chính sở hữu quy mô vốn điều lệ đạt khoảng 20.317 tỷ đồng và tổng tài sản ước tính 170.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 3,5% tổng tài sản toàn hệ thống ngân hàng thời điểm đó. Mặc dù đóng vai trò là kênh thu xếp vốn nội bộ ban đầu, nhiều đơn vị đã nhanh chóng chệch hướng khi đầu tư ồ ạt vào các lĩnh vực nhạy cảm, rủi ro cao như chứng khoán, bất động sản và ngân hàng.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự suy giảm năng lực tài chính, thất thoát vốn nhà nước và tình trạng thua lỗ kéo dài tại các doanh nghiệp này. Mục tiêu nghiên cứu tập trung đánh giá thực trạng hoạt động, bóc tách nguyên nhân thể chế và quản trị dẫn đến tình trạng kém hiệu quả của các công ty tài chính nhà nước giai đoạn 2000–2016, đồng thời phản biện yêu cầu thoái vốn toàn bộ theo Quyết định số 929/QĐ-TTg năm 2012. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với lộ trình tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng, giúp cơ quan quản lý phân loại chính xác giữa các đơn vị cần phục hồi, cổ phần hóa chiến lược và các đơn vị buộc phải giải thể hoặc phá sản theo nguyên tắc thị trường.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên ba trụ cột lý thuyết kinh tế và quản trị công hiện đại:

Thứ nhất, Lý thuyết Chi phí đại diện và Quan hệ ủy quyền - thừa hành chỉ ra rằng trong bộ máy quan liêu của khu vực công, người thừa hành tại các doanh nghiệp nhà nước thiếu động lực tối ưu hóa nỗ lực so với khu vực tư nhân. Thay vào đó, họ có xu hướng chuyển hướng nguồn lực vào các lợi ích nhóm hoặc phục vụ mục tiêu ngắn hạn, tạo ra chi phí giao dịch và chi phí giám sát rất lớn.

Thứ hai, Lý thuyết Bất cân xứng thông tin và Rủi ro đạo đức làm sáng tỏ cơ chế hình thành tổn thất tài chính. Sự thiếu hụt thông tin giữa cơ quan chủ quản và ban điều hành công ty tài chính tạo điều kiện cho các quyết định đầu tư mạo hiểm ngoài ngành. Tâm lý ỷ lại vào sự bảo lãnh ngầm của nhà nước khiến các đơn vị này dễ dàng tiếp cận nguồn vốn lớn từ ngân hàng thương mại với lãi suất ưu đãi, rồi giải ngân thiếu kiểm soát cho các dự án kém khả thi.

Thứ ba, Khung giám sát an toàn hoạt động và Kỷ luật thị trường theo Trụ cột III của Hiệp ước Basel II, nhấn mạnh việc duy trì hệ số an toàn vốn tối thiểu, giới hạn góp vốn mua cổ phần dưới 11% vốn điều lệ của một doanh nghiệp thương mại và tính minh bạch thông qua báo cáo tài chính kiểm toán bắt buộc.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính thông qua nghiên cứu tình huống điển hình kết hợp phân tích chuẩn tắc các văn bản pháp quy.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 12 công ty tài chính thuộc tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước hình thành trong giai đoạn 2000–2016, trong đó đi sâu phân tích hồ sơ tài chính của 6 trường hợp đại diện: EVNFinance, CFC, PTF, VFC, HAFIC và PVFC. Phương pháp chọn mẫu chủ đích được áp dụng nhằm bao quát đầy đủ các trạng thái hoạt động: từ nhóm kinh doanh có lãi ổn định, nhóm tái cơ cấu thành công qua mua bán sáp nhập, đến nhóm suy kiệt vốn nghiêm trọng.

Lý do lựa chọn phương pháp định tính và nghiên cứu tình huống bắt nguồn từ tính chất đặc thù, nhạy cảm của dữ liệu tài chính doanh nghiệp nhà nước. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ báo cáo tài chính kiểm toán thường niên, số liệu giám sát của Ngân hàng Nhà nước, kết luận của Thanh tra Chính phủ và các đề án tái cơ cấu được phê duyệt. Phương pháp này cho phép nhận diện đa chiều mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu, hành vi quản trị và cơ chế kiểm soát thể chế mà các mô hình định lượng đơn thuần khó có thể lượng hóa đầy đủ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tình trạng đầu tư dàn trải ngoài ngành và cấp tín dụng nội bộ lỏng lẻo là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến nợ xấu khổng lồ. Điển hình tại Công ty Tài chính Cao su, tổng dư nợ cho vay đạt hơn 1.900 tỷ đồng nhưng nợ xấu lên tới 1.625 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ tới 83% tổng dư nợ. Đơn vị này còn để tồn đọng 599,5 tỷ đồng tiền gửi khó thu hồi tại Công ty Cho thuê tài chính II thuộc Agribank. Tương tự, Tổng công ty Tài chính Dầu khí từng đầu tư vượt hạn mức quy định vào 3 công ty con và 11 công ty liên kết ngoài ngành với quy mô vốn đầu tư dài hạn lên đến 3.772 tỷ đồng vào năm 2009.

Thứ hai, sự suy giảm nghiêm trọng của vốn chủ sở hữu tại các đơn vị yếu kém đẩy doanh nghiệp vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Số liệu tài chính giai đoạn 2013–2016 ghi nhận:

  • Công ty Tài chính Tàu Thủy ghi nhận vốn chủ sở hữu âm từ 4.672 tỷ đồng năm 2013 xuống mức âm 6.399 tỷ đồng năm 2016, với khoản lỗ ròng năm 2016 lên tới 706 tỷ đồng.
  • Công ty Tài chính Handico chuyển từ vốn chủ sở hữu dương 427 tỷ đồng năm 2013 sang âm 858 tỷ đồng năm 2016 do các khoản lỗ đầu tư chứng khoán vượt mức 736 tỷ đồng.

Thứ ba, làn sóng mua bán và sáp nhập với các ngân hàng thương mại cổ phần mở ra bước ngoặt phục hồi rõ rệt. Trường hợp Công ty Tài chính Than - Khoáng sản sau khi chuyển giao về VPBank đã ghi nhận mức tăng trưởng lợi nhuận sau thuế ấn tượng, tăng gấp 20 lần sau 2 năm hoạt động theo mô hình tín dụng tiêu dùng, đi kèm mức tăng tổng tài sản hơn 6 lần.

Thứ tư, tính minh bạch thông tin cực kỳ thấp. Trong năm 2015, chỉ có 5 trên tổng số 16 công ty tài chính thực hiện công bố báo cáo tài chính kiểm toán công khai theo quy định; đến năm 2016, con số này giảm xuống chỉ còn 3 đơn vị gồm EVNFinance, CFC và Prudential Finance.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm chứng minh rằng sự sụp đổ tài chính của các công ty tài chính nhà nước không đơn thuần do rủi ro thị trường mà xuất phát từ khiếm khuyết thể chế quản lý công. Khoảng trống pháp lý kéo dài 10 năm từ khi thí điểm tập đoàn kinh tế năm 1994 đến khi ban hành Nghị định số 199/2004/NĐ-CP đã trao quyền tự quyết quá lớn cho lãnh đạo tập đoàn mà không đi kèm cơ chế kiểm soát rủi ro đòn bẩy.

Về mặt trực quan hóa dữ liệu, bức tranh tài chính của các công ty tài chính nhà nước có thể được hệ thống hóa qua biểu đồ phân tán kết hợp hai trục: trục hoành thể hiện Tỷ lệ an toàn vốn và trục tung thể hiện Tỷ suất sinh lời trên vốn điều lệ. Khi biểu diễn, nhóm đơn vị như EVNFinance (duy trì tỷ suất lợi nhuận trên vốn điều lệ từ 4,34% năm 2014 lên 6,62% năm 2016) và CFC (đạt lợi nhuận 5,67% năm 2015) nằm ở góc phần tư ổn định. Ngược lại, nhóm VFC và HAFIC rơi sâu vào vùng âm tuyệt đối, minh chứng cho sự thất bại hoàn toàn của mô hình quản trị cũ. Sự can thiệp của các ngân hàng thương mại thông qua tái cấu trúc M&A đã thay thế cơ chế ủy quyền quan liêu bằng kỷ luật thị trường hiện đại.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thực hiện phân loại và cổ phần hóa linh hoạt thay vì thoái vốn cơ học 100%. Đối với các công ty tài chính đang hoạt động ổn định và giữ vai trò cốt lõi trong thu xếp vốn chuyên ngành như EVNFinance và CFC, tập đoàn mẹ chỉ nên giảm tỷ lệ sở hữu từ mức 39%–40% xuống mức trần 15% vốn điều lệ theo Luật các Tổ chức tín dụng. Quá trình này cần hoàn tất trong giai đoạn 2017–2020 thông qua việc chào bán cho các nhà đầu tư chiến lược, ngân hàng thương mại để nâng cao năng lực quản trị.

Thứ hai, kiên quyết xử lý phá sản và giải thể đối với các tổ chức tài chính kiệt quệ. Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ cần chấm dứt việc sử dụng ngân sách để cứu trợ các đơn vị âm vốn nghiêm trọng như Công ty Tài chính Tàu Thủy và Công ty Tài chính Handico. Cần tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc xử lý nợ xấu theo Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội, cho phép khởi động thủ tục phá sản công khai nhằm loại bỏ tâm lý ỷ lại của khối doanh nghiệp nhà nước.

Thứ ba, hoàn thiện khung pháp lý và mở rộng kênh huy động vốn. Ngân hàng Nhà nước cần xem xét sửa đổi quy chế hoạt động, cho phép các công ty tài chính lành mạnh được nhận tiền gửi có kỳ hạn trên 1 năm từ khách hàng cá nhân. Giải pháp này giúp các công ty tài chính giảm thiểu chi phí vốn huy động, hướng tới mục tiêu tăng trưởng tín dụng an toàn 12%–15% mỗi năm.

Thứ tư, siết chặt kỷ luật công bố thông tin và tăng cường vai trò kiểm toán. Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước cần ban hành chế tài đình chỉ hoạt động hoặc thu hồi giấy phép đối với các tổ chức tín dụng phi ngân hàng không công khai báo cáo tài chính kiểm toán trong thời hạn 90–120 ngày sau khi kết thúc năm tài chính. Giao thẩm quyền độc lập cho Kiểm toán Nhà nước thực hiện kiểm toán định kỳ hàng năm tại tất cả các công ty tài chính có vốn nhà nước.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch Đầu tư. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn sắc bén để hoàn thiện khung khổ pháp lý về giới hạn sở hữu chéo, tỷ lệ an toàn vốn và cơ chế thanh tra giám sát tổ chức tín dụng phi ngân hàng.

Thứ hai, hội đồng thành viên và ban tổng giám đốc các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Nghiên cứu mang lại những bài học kinh nghiệm sâu sắc về phân bổ vốn đầu tư, quản trị danh mục và kiểm soát rủi ro trong mối quan hệ giữa công ty mẹ và doanh nghiệp thành viên.

Thứ ba, ban điều hành các ngân hàng thương mại và quỹ đầu tư tài chính. Tài liệu là cẩm nang phân tích giá trị phục vụ các thương vụ M&A, định giá danh mục nợ và phát triển các công ty tài chính tiêu dùng chuyên biệt.

Thứ tư, giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Chính sách công, Tài chính - Ngân hàng và Quản trị kinh doanh. Đây là nguồn tư liệu tình huống thực tế phong phú về lý thuyết ủy quyền - thừa hành và quản trị doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao các công ty tài chính nhà nước lại rơi vào khủng hoảng đầu tư ngoài ngành trong giai đoạn 2005–2008?
Nguyên nhân xuất phát từ sự bùng nổ của thị trường bất động sản, chứng khoán cùng với quyền hạn quá rộng của lãnh đạo doanh nghiệp theo cơ chế cũ. Bên cạnh đó, việc thiếu hụt các quy định khống chế tỷ lệ đầu tư ra ngoài ngành trước năm 2009 đã kích thích hành vi đầu cơ tìm kiếm lợi nhuận ngắn hạn.

Tại sao tác giả không đồng tình với việc thoái vốn toàn bộ 100% tại tất cả các công ty tài chính?
Bởi vì những đơn vị như EVNFinance hay CFC vẫn đóng vai trò là kênh thu xếp vốn chuyên ngành đắc lực cho các dự án hạ tầng lớn. Việc ép buộc thoái vốn gấp gáp dễ dẫn đến nguy cơ bị đối tác ép giá và làm mất đi công cụ quản trị tài chính nội bộ hiệu quả.

Việc M&A giữa công ty tài chính nhà nước với ngân hàng thương mại mang lại lợi ích gì?
Quá trình này giúp ngân hàng thương mại sở hữu ngay giấy phép hoạt động tín dụng tiêu dùng mà không bị giới hạn cấp phép mới. Ngược lại, công ty tài chính được chuyển đổi mô hình quản trị theo chuẩn thị trường, làm sạch bảng cân đối kế toán và phục hồi tăng trưởng lợi nhuận vượt bậc.

Nguyên nhân chính dẫn đến việc âm vốn hàng nghìn tỷ đồng tại VFC và HAFIC là gì?
Các đơn vị này đã buông lỏng hoàn toàn quy trình thẩm định tín dụng, cho vay nội bộ dễ dãi theo mệnh lệnh hành chính của tập đoàn mẹ và đầu tư sai lầm hàng trăm tỷ đồng vào thị trường cổ phiếu, dẫn đến mất trắng vốn chủ sở hữu khi thị trường suy thoái.

Nghị quyết số 42/2017/QH14 tác động thế nào đến xử lý các công ty tài chính yếu kém?
Nghị quyết thiết lập nguyên tắc không dùng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu, đồng thời mở rộng quyền thu giữ và xử lý tài sản bảo đảm. Điều này tạo nền tảng pháp lý vững chắc để buộc các công ty tài chính mất khả năng chi trả phải xử lý dứt điểm theo quy luật thị trường.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng và nguyên nhân gốc rễ dẫn đến sự suy thoái tài chính của các công ty tài chính nhà nước giai đoạn 2000–2016 dưới lăng kính lý thuyết kinh tế công.
  • Nghiên cứu chỉ rõ tác động tiêu cực của vấn đề bất cân xứng thông tin, sự buông lỏng giám sát của cơ quan quản lý và tâm lý ỷ lại vào sự bảo hộ của nhà nước.
  • Kết quả khảo sát thực tế chứng minh hiệu quả vượt trội của giải pháp tái cấu trúc M&A với ngân hàng thương mại so với cơ chế vận hành hành chính truyền thống.
  • Luận văn đưa ra khuyến nghị phân loại chính sách linh hoạt: giữ lại một phần vốn tại các đơn vị có năng lực cốt lõi và kiên quyết cho phá sản các đơn vị kiệt quệ tài chính.
  • Đóng góp khoa học của đề tài là cơ sở tham chiếu quan trọng cho lộ trình cơ cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn tiếp theo.

Các cơ quan quản lý và lãnh đạo doanh nghiệp cần nhanh chóng rà soát toàn diện danh mục đầu tư tài chính, đẩy mạnh áp dụng chuẩn mực quản trị quốc tế Basel II và công khai hóa dữ liệu kiểm toán nhằm xây dựng thị trường tài chính Việt Nam minh bạch và bền vững.