Đặt vấn đề Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là nguồn gốc của mọi của cải vật chất trong xã hội, là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì có thể thay thế được của ngành sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là các nguồn lợi tự nhiên như khí hậu, thời tiết, nước, không khí, khoáng sản nằm trong lòng đất, là địa bàn phân bố các khu dân cư, là nền tảng xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng. Đồng thời đất đai là nguồn tài nguyên có hạn về số lượng, có vị trí cố định trong không gian. Chính vì vậy đất đai cần được quản lý một cách hợp lý, sử dụng một cách có hiệu quả, tiết kiệm và bền vững. Theo hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất và quản lý theo quy hoạch của pháp luật, đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích có hiệu quả”.
Luật đất đai năm 1993, Luật đất đai sửa đổi và bổ sung năm 1998, năm 2001 và Luật đất đai 2003 là những căn cứ pháp lý quan trọng nhằm quy định chi tiết, cụ thể những vấn đề liên quan tới quyền và nghĩa vụ của các chủ sử dụng đất, cũng như các vấn đề nảy sinh trong quá trình khai thác sử dụng đất đai. Nhưng vấn đề này đòi hỏi phải có biện pháp, chương trình quản lý mang tính chiến lược và quy hoạch sử dụng đất đai chính là một trong các biện pháp đó. Đứng trước vấn đề đó, những năm gần đây Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ chương chính sách về quản lý và sử dụng đất đai cho các ngành, các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân cụ thể hóa bằng chỉ thị 100/CT-CP (13/10/1981) của thủ tướng Chính phủ, nghị quyết 10/NĐ (04/1998) là những tiền đề để luật đất đai 1993 ra đời. Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 1998 và năm 2001, Nghị định 181/NĐ-CP (29/10/2004), Thông tư 30/TT/BTNMT (01/11/2004) là một văn kiện pháp lý quy định về chế độ quản lý, sử dụng đất theo đúng quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước.
Về thực chất quy hoạch đất đai là sự bố chí phân bổ các loại đất sao cho sử dụng phù hợp với yêu cầu của cuộc sống, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và luôn chú ý đến việc bảo vệ và bồi dưỡng qũy đất. Nhưng thực tế việc thực n 2 hiện quy hoạch sử dụng đất còn gặp những trở ngại, khó khăn dẫn đến quy hoạch không thực hiện đúng theo kế hoạch, nhiều phương án quy hoạch sử dụng đất thực hiện đã không đạt được mục đích đề ra. Đánh giá tình hình quy hoạch sử dụng đất giai đoạn trước là việc làm cần thiết để rút ra kinh nghiệm cho việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất các giai đoạn sau tốt hơn. Xuất phát từ thực tế đó, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Quản lý Tài nguyên – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của ThS.
Nguyễn Văn Hiểu, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011 – 2013, giải pháp thực hiện quy hoạch sử dụng đất đến 2015 tại thị trấn Lộc Bình - huyện Lộc Bình – tỉnh Lạng Sơn”. Mục đích của đề tài Đánh giá công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất tại thị trấn Lộc Bình - huyện Lộc Bình – tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011 - 2013, phân tích rõ những mặt tích cực và hạn chế trên phương diện nội dung, chất lượng của phương án quy hoạch, kết quả thực hiện. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao tính hợp lý, khả năng thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn tiếp theo một cách hợp lý. Yêu cầu của đề tài - Số liệu thu thập được phải khách quan, trung thực và chính xác.
- Điều tra, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp và đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thị trấn Lộc Bình - huyện Lộc Bình – tỉnh Lạng Sơn. - Phân tích đánh giá tình hình sử dụng các loại đất. - Đánh giá được kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. - Đánh giá được ảnh hưởng của việc thực hiện quy hoạch đến quỹ đất.
- Đưa ra định hướng sử dụng đất trên địa bàn của thị trấn Lộc Bình - huyện Lộc Bình. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu Thông qua việc nghiên cứu đề tài giúp em thu thập được những kinh nghiệm và kiến thức thực tế, củng cố và hoàn thiện kiến thức đã học được, n 3 hiểu rõ tầm quan trọng của công tác này, biết cách thực hiên một đề tài khoa học và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp. Ý nghĩa thực tiễn Đề tài nghiên cứu tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất của thị trấn Lộc Bình - huyện Lộc Bình – tỉnh Lạng Sơn để thấy được tính hợp lý và chưa hợp lý của phương án quy hoạch.
Đánh giá được thực trạng sử dụng đất, xác định những tồn tại, yếu kém trong việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, xác định những ảnh hưởng của quy hoạch đến quý đất, từ đó tìm ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở lý luận về quy hoạch sử dụng đất 2. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các thành phần của sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó.
Bao gồm: Khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản nằm trong lòng đất, tập đoàn động – thực vật, trạng thái định cư của con người hiện tại và trong quá khứ để lại. Đất đai là điều kiện vật chất chung nhất đối mọi ngành sản xuất và hoạt động của con người, vừa là đối tượng lao động, vừa là phương tiện lao động. Vì vậy đất đai là tư liệu sản xuất (TLSX).[10] Ngoài ra đất đai còn có các tính chất đặc biệt so với các TLSX khác như: Đặc điểm tạo thành: Đất đai xuất hiện, tồn tại ngoài ý chí và nhận thức của con người, là sản phẩm tự nhiên, có trước lao động, là điều kiện tự nhiên của lao động. Chỉ khi tham gia vào quá trình lao động sản xuất của xã hội dưới tác động của lao động đất đai mới trở thành TLSX.
Tính hạn chế về số lượng: đất đai là tài nguyên hạn chế, diện tích (số lượng) bị giới hạn bởi ranh giới của đất liền trên địa cầu. Các TLSX khác có thẻ tăng lên về số lượng tùy theo nhu cầu của con người. Tính không đồng nhất: Đất đai không đồng nhất về chất lượng, hàm lượng chất dinh dưỡng, các tính chất lý, hóa. Các TLSX khác có thể đồng nhất về chất lượng, quy cách, tiêu chuẩn ( mang tính tương đối do công nghệ quy định ).
Tính không thay thế: Đất không thể thay thế bằng các TLSX khác, các TLSX khác tùy vào mức độ phát triển của lực lượng sản xuất có thể thay thế bằng TLSX khác hoàn thiện hơn, có hiệu quả kinh tế hơn. Tính cố định vị trí: Đất đai hoàn toàn cố định vị trí trong sử dụng ( khi sử dụng không thể di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác). Các TLSX khác có thể di chuyển mọi chỗ, mọi nơi, có thể di chuyển tùy theo yêu cầu của con người. Tính vĩnh cửu: Đất đai là TLSX vĩnh cửu, nếu biết sử dụng hợp lý đặc biệt trong sản xuất nông – lâm nghiệp, đất sẽ không bị hư hỏng, ngược lại có n 5 thể làm đất đai tăng tính sản xuất ( độ phì) cũng như hiệu quả sử dụng.
Khả năng tăng tính chất sản xuất của đất phụ thuộc vào phương thức sử dụng. Các TLSX khác đều bị hư hỏng trong quá trình sử dụng và giảm hiệu ích cuối cùng bị đào thải trong quá trình sản xuất. Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội Nói về vai trò của đất đai với sản xuất, Mác khẳng định “Lao động không phải là nguồn duy nhất sinh ra của cải vật chất và giá trị tiêu thụ, lao động chỉ là cha của của cải vật chất còn đất là mẹ”. Đất đai là khoảng không gian lãnh thổ cần thiết đối với quá trình sản xuất trong mọi ngành kinh tế quốc dân và hoạt động của con người, nó tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, tuy nhiên vai trò của đất đai với các ngành là khác nhau.[10] Thực tế cho thấy, trong quá trình phát triển của xã hội loài người sự hình thành và phát triển của mọi nền văn minh vật chất, văn minh tinh thần, các thành tựu khoa học công nghệ đều được hình thành cơ bản trên nền tảng cơ bản sử dụng đất.
Trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước cùng với sự bùng nổ dân số đã làm mối quan hệ giữa người với đất ngày càng căng thẳng đòi hỏi con người cần phải có biện pháp sử dụng hợp lý và hiệu quả. Định nghĩa về quy hoạch đất đai Để thực hiện được một phương án QHSDĐĐ ( quy hoạch sử dụng đất đai) hoàn thiện thì phải nắm rõ được khái niệm, bản chất, nội dung của quy hoạch đất đai. Quy hoạch là việc xác định một trật tự nhất định bằng những hoạt động như: Phân bố, bố trí, sắp xếp tổ chức đất đai tạo ra những điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo mục đích khác nhau.[10] QHSDĐĐ là hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của Nhà nước về tổ chức sử dụng và quản lý đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả nhất thông qua việc phân bố qũy đất đai (khoanh định các mục đích của các ngành) và tổ chức sử dụng đất như một TLSX (các giải pháp sử dụng cụ thể), nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội tạo điều kiện bảo vệ đất đai, bảo vệ môi trường.[10] n 6 Như vậy, thực chất của QHSDĐĐ là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích cao, thực hiện đồng thời chức năng là: Điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và đưa ra các biện pháp sử dụng đất đai phù hợp với yêu cầu hiện tại tương thích với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai.