Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học về đăng ký đất đai và Văn phòng Đăng ký đất đai 1. Khái niệm về đất đai và chức năng của đất đai 1. Đất đai Đất đai có mặt, duy trì không trong tư duy và nhận thức của chúng ta; Là SP của tự nhiên, xuất hiện không sau LĐ, là mục đích tự nhiên của LĐ.
Chỉ khi tham gia vào công việc SX của XH, dưới ảnh hưởng của LĐ đất đai mới trở thành tư liệu SX. Hiến pháp năm 1992 của nước cộng hoà XH chủ nghĩa Việt Nam cho biết rõ từ Điều 17 rằng: “Đất đai, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, rừng núi, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và TS do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp; công trình thuộc các ngành và công việc KT, văn hoá, XH, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài TS không giống mà PL cho biết là của Nhà nước, và do toàn dân sở hữu (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 1992). Bất động sản Trong công việc KT và pháp lý, TS được chia thành 2 loại: Bất động sản và động sản; Mặc dù chỉ tiêu biết được BĐS của các nước có không giống nhau, nhưng đều cùng nhau BĐS gồm đất đai và các TS gắn liền với đất đai. Chỉ có quyền dùng đất, chi tiết hơn là quyền dùng đất một số loại đất và của một số đối tượng chi tiết và trong các yêu cầu chi tiết mới được coi là hàng hoá và được đưa vào lưu thông thị trường BĐS.
Ở Việt Nam tại Điều 174 Bộ Luật dân sự 2005 của nước Công hòa XH Chủ nghĩa Việt Nam đã cho biết “BĐS là các TS bao gồm: Đất đai; Nhà, công trình thiết lập gắn liền với đất đai, kể cả các TS gắn liền với nhà, công trình m 5 thiết lập đó; Các TS không giống gắn liền với đất; Các TS không giống do PL cho biết’’ (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2005). Thị trường Bất động sản Thị trường bất động sản là vấn đề cấp thiết giúp có được sự chủ chốt và để tâm của mọi các tầng lớp trong XH nhất là trong khi nước ta đang tiến hành hội nhập và tăng trưởng theo xu hướng CNH HĐH (Luật Nhà ở 2005) Thị trường bất động sản (TTBĐS) là một phần làm nênquan trọng của nền KT thị trường. Thị trường bất động sản gắn liền khăng khít với các thị trường không giống như thị trường hàng hoá, thị trường chứng khoán, thị trường LĐ, thị trường KHCN. Thị trường bất động sản là vấn đề, bao gồm hàng hóa và dịch vụ bất động sản được thực hiện liên tục (Trần Kim Chung, 2005).
Thị trường BĐS có ảnh hưởng vì sự tác động bởi các quy luật KT hàng hoá; Quy luật về giá trị; Quy luật cung và cầu và dựa vào hoạt động không riêng của vấn đề này với 3 yếu tố cho sẵn là SP, số lượng và giá cả. Giới hạn công việc của thị trường BĐS do PL của mỗi nước cho biết nên không đồng nhất. Ví dụ: PL Australia cho biết không được quyền được giảm thiểu mua, bán, thế chấp, thuê BĐS và mọi các loại đất, BĐS đều được mua, bán, cho thuê, thế chấp; PL nước này được hiểu các hoạt động gồm có hoạt động thay đổi BĐS, thế chấp BĐS và cho thuê nhà. Công việc của thị trường BĐS là làm cho người mua và người bán BĐS tìm được nhau; biết được giá cả cho các BĐS giao dịch; Chia ra BĐS theo quy luật cung cầu; tăng trưởng BĐS trên nền tảng tính cạnh tranh của thị trường (UlfJensel, Lun University of Swden, 2001) 1.
Những lợi ích khác nhau về sử dụng đất - ĐKĐĐ là một phương tiện của Nhà nước nhằm bảo vệ điều có lợi Nhà nước, điều có lợi cộng đồng cũng như điều có lợi công dân. Trong đó điều có lợi đối với Nhà nước và XH được chỉ rõ trong các công việc sau: m 6 + Dùng để thu thuế dùng đất, thuế TS, thuế SX nông nghiệp, thuế chuyển nhượng. + Theo dõi giao dịch đất đai, giúp đỡ công việc của thị trường BĐS; + Dùng để quy hoạch, kế hoạch dùng đất, giao đất, thu hồi đất. + Đưa đến các giấy tờ cho các các hoạt động thay đổi đất đai, bản thân hoạt động thực hiện một mạng lưới ĐKĐĐ cũng là một thay đổi trong PL; + Chắc chắn an ninh KT, trật tự XH.
- Ghi danh quyền dùng đất cũng đem lại các điều có lợi đối với công dân như sau: + Tăng cường sự không bị rủi ro về chủ quyền đối với BĐS; + Thúc đẩy đầu tư cá nhân; + Mở rộng khả năng vay vốn XH. Mạng lưới đăng ký đất đai 1. Khái quát về mạng lưới đăng ký đất đai 1. Sự cần thiết của mạng lưới đăng ký đất đai Mọi công việc của đời sống XH, từ KT, chính trị đến văn hoá tinh thần, chức năng của đất đai là không thể phủ nhận và không thể thiếu.
Từ đấy, việc lấy đất đai phải mang tính hoạt động không thấp, không ai được dùng đất theo mong muốn riêng của mình. Điều này đỏi hỏi Nhà nước phải cùng nhau kiểm soát đất đai và thiết lập một mạng lưới kiểm soát đất đai có hiệu quả nhằm chắc chắn cho sự tăng trưởng bền vững của loại tài nguyên quý giá này, cũng là nhằm chắc chắn cho sự tăng trưởng bền vững của XH bây giờ lẫn sau này. Thủ tướng Chính phủ (2018) Mạng lưới ĐKĐĐ là một thành phần quan trọng của mạng lưới kiểm soát đất đai, chứa đựng và cung cấp dữ liệu liên quan đến đất đai, bao gồm nhưng không giới hạn dữ liệu về quyền đối với đất đai, chủ thể có quyền và các thuộc tính của đất đai. Các dữ liệu này được ghi danh và giữ lại theo nhiều cách không giống nhau tuỳ thuộc vào yêu cầu mà chúng được khai thác, dùng.
m 7 Nhằm kiểm soát tốt đất đai, điều quan trọng là dữ liệu về đất đai phải được nắm rõ và được tiếp cận một cách không khó khăn. Nó phụ thuộc vào cách thức cơ sở mạng lưới dữ liệu đất đai. Dữ liệu đất đai lại là kết quả thu được từ thời gian ĐKĐĐ nên việc thiết lập một mạng lưới ĐKĐĐ hiệu quả đang trở thành nội dung cần thiết của nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là các quốc gia đang tăng trưởng mà trong đó có Việt Nam (Đặng Anh Quân, 2011). Khái niệm và các yếu tố quan trọng của mạng lưới đăng ký đất đai Đất đai là TS rất đáng quý do ông trời đưa đến cho chúng ta, điều đó kết hợp lịch sử đấu tranh choh sự sống từ rất lâu của từng nước, từng dân tộc.
Từ thời gian rất lâu bắt nguồn từ sự xuất hiện và thay đổi với các vấn đề lịch sử không giống nhau đồng thời với cơ cấu cơ sở, tên gọi không giống nhau, ngành kiểm soát đất đai nói chung và Công tác ĐKĐĐ nói riêng ngày càng được thiết lập và hoàn thiện trên nền tảng theo quy định của PL. Trong thực tế đời sống XH có rất nhiều công việc phải ghi danh khi phát sinh các sự việc (sinh tử, kết hôn, nuôi con nuôi…), hoặc phát sinh nhu cầu sở hữu, nhu cầu dùng TS (ghi danh nhà ở, xe…), khi phát sinh các nhu cầu không giống: Ghi danh LĐ, nghĩa vụ quân sự, mua bán TS… trong các việc ghi danh trên có các việc phải ghi danh với cơ quan Nhà nước, song cũng có việc ghi danh theo tự nguyện của người có nhu cầu. ĐKĐĐ thực chất là thời gian thực hiện công việc nhằm thiết lập hồ sơ địa chính đầy đủ cho toàn bộ đất đai trong giới hạn địa giới hành chính từng xã, phường, thị trấn trong cả nước và cấp GCN cho các người dùng đất, chủ sở hữu TS hợp pháp và đủ yêu cầu làm nền tảng nhằm Nhà nước quản chặt, nắm chắc toàn bộ đất đai và TS gắn liền với đất theo quy hoạch và PL. Trong thời gian dùng đất sẽ luôn có các thay đổi khi người dùng đất thực hiện các quyền dùng đất của mình (chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp,…).
Do đó, người dùng đất cần đến cơ quan Nhà nước nhằm ghi danh sự biến đổi về thửa đất mà mình đang dùng, giúp Nhà nước m 8 kiểm soát tốt hơn quỹ đất trong toàn quốc cũng như nhằm bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của mình. Ghi danh quyền đất đai là nghĩa vụ và trách nhiệm của từng chủ dùng và cơ quan Nhà nước làm nhiệm vụ kiểm soát đất đai. Điều có lợi của mạng lưới đăng ký đất đai - Đối với chủ thể dùng đất và các chủ thể liên quan: Điều có lợi đầu tiên được chỉ rõ rõ ràng là sự bảo vệ quyền và điều có lợi hợp pháp của người dùng đất đối với một diện tích biết được. Bởi vì dữ liệu ghi danh chỉ rõ chủ quyền chỉ của duy nhất một người thì chỉ người đó mới có thể định đoạt đối với quyền dùng và các điều có lợi trên đất, và quyền lợi của họ sẽ được Nhà nước chắc chắn trước sự xâm phạm của chủ thể không giống.
ĐKĐĐ còn đưa đến một sự an toàn thích hợp cho tất cả các người gắn liền đối với thửa đất không phải chủ dùng đất đối với các thửa đất liền kề về lối đi, các tiện ích công cộng như điện, nước, cống rãnh,. hạn chế yêu cầu dùng đất, thiết lập công trình trên đất. - Đối với Nhà nước: Dữ liệu đất đai đáng tin cậy và luôn được cập nhật là nền tảng nhằm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, thực thi nhiệm vụ của một chủ thể kiểm soát XH và sau đó là bảo vệ quyền sở hữu đất đai của Nhà nước. Dữ liệu đất đai có trong mạng lưới ghi danh là nền tảng chắc chắn công việc cho thị trường đất đai và bất động sản, làm tăng ngân sách thông qua các nguồn thu từ thuế; giúp đỡ cho công việc quy hoạch đất đai cho các yêu cầu tăng trưởng KT.
Các yêu cầu đối với mạng lưới đăng ký đất đai Nhằm đánh giá tính hiệu quả, các yêu cầu cơ bản đã được đặt ra như là chỉ tiêu quan trọng đối với thiết lập mạng lưới ĐKĐĐ, gồm có: - Sự chính xác và không bị rủi ro: Đây là yêu cầu thiết yếu đối với mạng lưới ghi danh nhằm chắc chắn cho sự ổn định trong công việc và hiệu quả của mạng lưới ĐKĐĐ.