ĐẶT VẤN ĐỀ Ngày nay, vấn đề môi trường đang trở nên ngày càng trầm trọng, đe dọa trực tiếp đến sự tồn tại, phát triển của loài người đang được các quốc gia và cộng đồng trên thế giới quan tâm. Bởi lẽ ô nhiễm môi trường, sự suy thoái và những sự cố môi trường có ảnh hưởng trực tiếp không chỉ trước mắt mà còn ảnh hưởng về lâu dài cho các thế hệ mai sau. Toàn thế giới đều đã nhận thức được rằng: phải bảo vệ môi trường, làm cho môi trường phát triển và ngày thêm bền vững. Dân số Việt Nam ngày càng gia tăng, kinh tế cũng phát triển, dẫn đến nhu cầu khám và điều trị bệnh gia tăng, số bệnh viện gia tăng.
Từ năm 1997 các văn bản về quản lý chất thải bệnh viện được ban hành. Theo niên giám thống kê năm 2007 có 956 bệnh viện tuyến huyện trở lên nhưng hầu hết chưa được quản lý theo một quy chế chặt chẽ hoặc có xử lý nhưng theo cách đối phó hoặc chưa đúng. Ô nhiễm môi trường do các hoạt động y tế mà thực tế là tình trạng xử lý kém hiệu quả các chất thải bệnh viện. Hiện tại, chất thải bệnh viện đang trở thành vấn đề môi trường và xã hội cấp bách ở nước ta, nhiều bệnh viện trở thành nguồn gây ô nhiễm cho môi trường dân cư xung quanh, gây dư luận trong cộng đồng.
Bệnh viện Đa Khoa Tỉnh Lạng Sơn đã được hình thành và đang phát triển mạnh mẽ trong những năm qua khẳng định được vai trò quan trọng của mình trong quá trình phát triển chung của đất nước. Nhờ những nỗ lực phấn đấu không ngừng đó mà bệnh viện đã đạt được nhiều thành quả đáng kể trong công tác khám chữa bệnh, phòng bệnh và chăm lo sức khỏe cho người dân. Bên cạnh những thành quả đạt được thì, hiện nay, vấn đề nhức nhối tại bệnh n 2 viện là tình trạng Chất Thải Rắn Y Tế (CTRYT) thải ra với khối lượng khá lớn, đa phần là chất thải nguy hại mà hệ thống quản lý CTRYT thì còn thiếu sót. Xuất phát từ những mối nguy hại trực tiếp hoặc tiềm ẩn của chất thải y tế gây ra đối với môi trường và con người, cần có những biện pháp hữu hiệu để nâng cao nhận thức của cộng đồng nói chung và nhân viên y tế nói riêng về những nguy cơ đó, nâng cao năng lực tổ chức, trách nhiệm và từng bước hoàn thiện hệ thống quản lý chất thải cũng như nâng cao chất lượng cảnh quan vệ sinh cho bệnh viện.
Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả quản lý cụ thể hơn là CTRYT tại bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn, kết hợp với quá trình giám sát thực tế giúp tìm hiểu những thiếu sót còn tồn tại trong công tác quản lý hiện nay của bệnh viện, góp phần làm tăng hiểu biết và nâng cao ý thức cũng như chất lượng điều trị, giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn và giảm rủi ro bệnh nghề nghiệp cho nhân viên y tế. Từ đó, nâng cao chất lượng quản lý rác thải y tế tại bệnh viện nói riêng và tại các phòng khám tư nhân, các trung tâm y tế nói chung hỗ trợ tốt hơn cho hệ thống quản lý chất thải hiện nay của huyện. Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi triển khai nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn”.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI • Đánh giá tổng hợp mức độ ô nhiễm môi trường chung và công tác quản lý CTRYT tại bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn • Đề xuất biện pháp quản lý phù hợp trong hoạt động bảo vệ môi trường bệnh viện.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài Báo cáo cung cấp số liệu điều tra thực tế về tình hình quản lý rác thải y tế tại bệnh viện, thực trạng về hệ thống quản lý CTRYT trong khu vực bệnh viện. Trên cơ sở đó phân tích những ưu và nhược điểm của hệ thống quản lý CTRYT, đồng thời đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp giúp cho các nhà quản lý có cơ sở khoa học để quản lý tốt hơn vấn đề CTRYT.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Đề tài cung cấp những dữ liệu liên quan đến hiện trạng quản lý môi trường và các giải pháp như là một cơ sở để so sánh giữa các phòng khám đa khoa ở các khu vực khác với nhau.
n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 CƠ SỞ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở pháp lý Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn quản lý chất thải rắn y tế dựa trên hệ thống các văn bản pháp luật sau đây [9]: Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005. Nghị định số: 80/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 của Thủ tướng chính phủ về hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường. Căn cứ nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 của chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường. Quyết định 43/2007/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế ngày 30/11/2007 về quản lý chất thải bệnh viện.
Quyết định 2575/1999/QĐ-BYT ban hành ngày 27 tháng 8 năm 1999 về quản lý rác thải bệnh viện. Các tiêu chuẩn, quy chuẩn về môi trường. Dựa trên những văn bản pháp luật trên và đặc biệt là theo Quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế ban hành kèm theo quyết định số 43/2007/QĐ- BYT, bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn đã ban hành văn bản qui định về việc thực hiện phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải y tế tại bệnh viện và những cá nhân hay khoa nào vi phạm sẽ bị trừ vào lương thưởng và thành tích thi đua. Do đó, quy định này được áp dụng và thi hành nghiêm túc tại bệnh viện.2 Cơ sở thực tiễn Những ảnh hưởng của chất thải rắn y tế đối với môi trường a.
Đối với môi trường Đối với môi trường đất Khi chất thải y tế được xử lý giai đoạn trước khi thải bỏ vào môi trường không đúng cách thì các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại, các vi khuẩn có thể ngấm vào môi trường đất gây nhiễm độc cho môi trường sinh thái, các tầng sâu trong đất, sinh vật kém phát triển… làm cho việc khắc phục hậu quả về sau lại gặp khó khăn. Đối với môi trường không khí Chất thải bệnh viện từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều gây ra những tác động xấu đến môi trường không khí. Khi phân loại tại nguồn, thu gom, vận chuyển chúng phát tán bụi rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi, hóa chất vào không khí. Ở khâu xử lý (đốt, chôn lấp) phát sinh ra các khí độc hại Hx, NOx, đioxin, furan… từ lò đốt và CH4, NH3, H2S… từ bãi chôn lấp.
Các khí này nếu không được thu hồi và xử lý sẽ gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của cộng đồng dân cư xung quanh. Đối với môi trường nước Khi chôn lấp chất thải y tế không đúng kỹ thuật và không hợp vệ sinh. Đặc biệt là chất thải y tế được chôn lấp chung với chất thải sinh hoạt có thể gây ô nhiễm nguồn nước ngầm. Đối với sức khỏe con người Đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp CTRYT Tất cả các cá nhân tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại là những người có nguy cơ tiềm tàng, bao gồm những người làm việc trong các cơ sở y tế, những người ở ngoài các cơ sở y tế làm nhiệm vụ vận chuyển các chất thải y tế và những người trong cộng đồng bị phơi nhiễm với chất thải do hậu quả n 6 của sự sai sót trong khâu quản lý chất thải.
Dưới đây là những nhóm chính có nguy cơ cao: • Bác sĩ, y tá, hộ lý và các nhân viên hành chính của bệnh viện. • Bệnh nhân điều trị nội trú hoặc ngoại trú. • Khách tới thăm hoặc người nhà bệnh nhân. • Những công nhân làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ phục vụ cho các cơ sở khám chữa bệnh và điều trị, chẳng hạn như giặt là, lao công, vận chuyển bệnh nhân… • Những người làm việc trong các cơ sở xử lý chất thải (tại các bãi đổ rác thải, các lò đốt rác) và những người bới rác, thu gom rác… 2.2 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ CTRYT TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM 2.1 Trên thế giới Trên thế giới,quản lý rác thải bệnh viện được nhiều quốc gia quan tâm và tiến hành một cách triệt để từ rất lâu.
Về quản lý,một loạt những chính sách quy định, đã được ban hành nhằm kiểm soát chặt chẽ loại chất thải này. Các hiệp ước quốc tế, các nguyên tắc, pháp luật và quy định về chất thài nguy hại, trong đó có cả chất thải bệnh viện cũng đã được công nhận và thực hiện trên hầu hết các quốc gia trên thế giới. Công ước basel: được kí kết bởi hơn 100 quốc gia, quy định về sự vận chuyển các chất độc hại qua biên giới, đồng thời áp dụng, với cả chất thải y tế. Công ước này đưa ra nguyên tắc chỉ vận chuyển hợp pháp chất thải nguy hại từ các quốc gia không có điều kiện và phương tiện thích hợp sang các quốc gia có điều kiện vật chất kĩ thuật để xử lý an toàn một số chất đặc biệt.
n 7 Nguyên tắc polluter pay: Nêu rõ mọi người, mọi cơ quan làm phát sinh chất thải phải chịu trách nhiệm về pháp luật và tài chính trong việc bảo đảm an toàn và giữ cho môi trường trong sạch. Nguyên tắc proximitry: Quy định rằng việc xử lý chất thải nguy hại cần được tiến hành ngay tại nơi phát sinh càng sớm càng tốt. Tránh tình trạng chất thải bị lưu giữ trong thời gian dài ngày gây ô nhiễm môi trường. Xử lý chất thải bệnh viện, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và khoa học công nghệ, nhiều nước trên thế giới đã có những biện pháp khác nhau để xử lý loại rác thải nguy hại này.
Các nước phát triển Hiện tại trên thế giới ở hầu hết các quốc gia phát triển, trong các bệnh viện, cơ sở chăm sóc sức khỏe hay những công ty đặc biệt xử lý phế thải đều có thiết lập hệ thống xử lý phế thải y tế. Đó là các lò đốt ở nhiệt độ cao tùy theo loại phế thải từ 1000oC đến trên 4000oC.