Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Đánh giá hiện trạng môi trường nước sinh hoạt tại xã Đức Lương, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên" được thực hiện bởi sinh viên Chu Thị Thanh Hải, chuyên ngành Khoa học Môi trường, Khoa Môi trường - Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Thái Nguyên) dưới sự hướng dẫn của PGS. Trần Văn Điền vào năm 2016.
Nghiên cứu xuất phát từ thực trạng tài nguyên nước ngọt sạch trên toàn cầu đang ngày càng khan hiếm khi chỉ chiếm khoảng 0,003% tổng lượng nước mà con người có thể trực tiếp khai thác sử dụng. Tại Việt Nam, hệ thống cấp nước tập trung mới chỉ đáp ứng cho khoảng 60% các đô thị, với tiêu chuẩn cấp nước ở đô thị vừa và nhỏ đạt 75–80 lít/người/ngày, đô thị lớn đạt 100–150 lít/người/ngày; khoảng 40% dân số thành thị bị thiếu nước và tỷ lệ người dân nông thôn được tiếp cận nước sạch chỉ dao động trong mức 40–60%. Trong bối cảnh đó, vấn đề nước sinh hoạt nông thôn chịu áp lực nghiêm trọng từ hóa chất bảo vệ thực vật, phân bón trong nông nghiệp và chất thải sinh hoạt chưa qua xử lý.
Tại địa bàn nghiên cứu, xã Đức Lương là một xã miền núi vùng sâu, vùng xa thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên với điều kiện kinh tế thuần nông (nông nghiệp chiếm tới 98,3% cơ cấu kinh tế), tỷ lệ hộ nghèo năm 2015 lên tới 57,2% (438/769 hộ). Mặc dù địa phương đã đẩy mạnh áp dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất lúa và chè, nhưng việc sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật thiếu kiểm soát đã tác động tiêu cực đến môi trường đất và các tầng chứa nước. Hiện tại xã chưa có hệ thống cấp nước sạch tập trung; toàn bộ người dân phải tự khai thác nguồn nước ngầm tại chỗ (giếng đào, giếng khoan) trong điều kiện chuồng trại chăn nuôi, nghĩa trang và rác thải sinh hoạt phân tán không theo quy hoạch.
Văn bản xác định các mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Đánh giá hiện trạng môi trường nước sinh hoạt tại xã Đức Lương, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Xác định những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước trên địa bàn xã Đức Lương, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đề xuất một số biện pháp khắc phục, giảm thiểu tình trạng ô nhiễm nước sinh hoạt và cung cấp nước sạch nhằm nâng cao chất lượng nước sinh hoạt, đáp ứng nhu cầu nước sạch của người dân địa phương.
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hiện trạng môi trường nước sinh hoạt (nguồn nước giếng khoan và giếng đào).
- Phạm vi không gian: Địa bàn xã Đức Lương, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (tập trung khảo sát tại 13 xóm và lấy mẫu phân tích chuyên sâu tại 3 xóm đại diện gồm Tiền Phong, Mon Đình, Đất Đỏ).
- Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành thu thập số liệu, khảo sát thực địa và lấy mẫu thực nghiệm từ tháng 9/2015 đến tháng 12/2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Cơ sở lý luận và khung pháp lý
Nghiên cứu vận dụng các khái niệm nền tảng của Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 (Luật số 55/2014/QH13 có hiệu lực từ ngày 01/01/2015), bao gồm: định nghĩa môi trường (khoản 1 Điều 3), ô nhiễm môi trường (khoản 8 Điều 3), quy chuẩn kỹ thuật môi trường (khoản 5 Điều 3) và tiêu chuẩn môi trường (khoản 5 Điều 3). Bên cạnh đó là khái niệm về nước sinh hoạt, suy thoái nguồn nước và các nguồn nước sạch quy ước theo phân loại của Ban chỉ đạo Quốc gia về cấp nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn (nước máy, nước giếng khoan ổn định, nước mưa trữ sạch, nước mặt đã qua lắng lọc khử trùng).
Khung pháp lý tham chiếu trong đề tài bao gồm hệ thống văn bản pháp luật và tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia:
- Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13.
- Các Nghị định của Chính phủ: Nghị định số 80/2006/NĐ-CP và Nghị định số 21/2008/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành Luật BVMT; Nghị định số 149/2004/NĐ-CP về cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước và xả thải; Nghị định số 117/2009/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Nghị định số 162/2003/NĐ-CP và Nghị định số 179/1999/NĐ-CP.
- Thông tư số 02/2005/TT-BTNMT, Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT và Thông tư liên tịch số 04/2013/TTLT-BNNPTNT-BTC-BKHĐT hướng dẫn kinh phí Chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và VSMTNT giai đoạn 2012–2015.
- Các tiêu chuẩn và quy chuẩn so sánh: QCVN 02:2009/BYT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt), QCVN 09:2008/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm), QCVN 08:2008/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt), QCVN 01:2009/BYT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống); các tiêu chuẩn lấy mẫu TCVN 6663-1:2011, TCVN 6663-3:2008, TCVN 6663-11:2011 và tiêu chuẩn vi sinh TCVN 6187-1-1996.
Phương pháp nghiên cứu
Tác giả đã kết hợp đồng bộ giữa phương pháp nghiên cứu xã hội học thực địa và phương pháp phân tích thực nghiệm phòng thí nghiệm:
- Phương pháp thu thập và kế thừa tài liệu thứ cấp: Thu thập dữ liệu báo cáo kinh tế - xã hội, thống kê đất đai năm 2015 của UBND xã Đức Lương; các tài liệu tổng quan về tài nguyên nước thế giới và Việt Nam.
- Phương pháp phỏng vấn xã hội học: Thiết kế phiếu điều tra phỏng vấn trực tiếp 60 hộ gia đình phân bố tại 13 xóm trên địa bàn xã (gồm các xóm: Đầu Cầu, Chùa Chinh, Tiền Phong, Nhất Quyết, Na Muồng, Hữu Sào, Đình Giữa, Rộc Mán, Mon Đình, Thống Nhất, Cây Xoan, Đất Đỏ, Xóm Đồi) nhằm ghi nhận cơ cấu nguồn nước, tình hình sử dụng thiết bị lọc, hiện trạng chuồng trại, nhà vệ sinh và bệnh tật liên quan.
- Phương pháp khảo sát thực địa: Quan sát cảm quan màu sắc, mùi vị nguồn nước tại vòi/giếng và kiểm tra khoảng cách vệ sinh từ giếng tới các nguồn ô nhiễm xung quanh.
- Phương pháp lấy mẫu và phân tích phòng thí nghiệm: Lấy mẫu vào ngày 27/11/2015 theo quy định của TCVN 6663-11:2011 đối với nước dưới đất. Mẫu được bảo quản trong túi đen tránh ánh sáng và chuyển về phòng thí nghiệm Khoa Môi trường - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Tổng số 6 mẫu đại diện được lấy tại 3 xóm có đặc điểm nhân sinh và địa hình khác biệt.
| Ký hiệu mẫu |
Loại nguồn nước |
Độ sâu giếng |
Vị trí và đặc điểm nguồn gây ô nhiễm xung quanh |
Xóm lấy mẫu |
| MK1 |
Giếng khoan |
30 m |
Nhà ông Lộc Văn Bình; cách chuồng nuôi lợn 8–9 m |
Tiền Phong |
| MĐ1 |
Giếng đào |
12 m |
Nhà ông Nguyễn Văn Tuấn; cách nghĩa trang 200 m |
Tiền Phong |
| MK2 |
Giếng khoan |
55 m |
Nhà bà Dương Thị Tâm; cách khu chợ xóm 100 m |
Mon Đình |
| MĐ2 |
Giếng đào |
10 m |
Nhà ông Lý Văn Hảo; cách chân đồi chè canh tác 150 m |
Mon Đình |
| MK3 |
Giếng khoan |
40 m |
Nhà bà Nguyễn Thị Hạnh; cách cánh đồng lúa 100 m |
Đất Đỏ |
| MĐ3 |
Giếng đào |
9 m |
Nhà ông Lý Văn Cường; cách ao 50 m, nước thải sinh hoạt đổ trực tiếp ra đất |
Đất Đỏ |
Các chỉ tiêu phân tích gồm: Màu sắc (cảm quan), Mùi vị (cảm quan), pH (máy đo đa chỉ tiêu), Độ cứng tổng số (chuẩn độ EDTA), Hàm lượng sắt tổng số (phương pháp so màu trắc quang UV-VIS), Oxy hòa tan DO (máy đo đa chỉ tiêu), Nhu cầu oxy hóa học COD (phương pháp chuẩn độ), Nitrat $\text{NO}_3^-$ (phương pháp Salycilate).
5. Phương pháp thống kê và xử lý số liệu: Tổng hợp, tính toán tỷ lệ phần trăm và vẽ biểu đồ trên phần mềm Microsoft Excel và Word; đối chiếu các thông số phân tích với ngưỡng giới hạn cho phép tại QCVN 09:2008/BTNMT và QCVN 02:2009/BYT.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh tỷ lệ bao phủ nước sạch nông thôn trên cả nước còn thấp (40–60%). Khẳng định đặc thù của xã Đức Lương là xã miền núi thuần nông, chịu nhiều tác động từ hoạt động canh tác nông nghiệp sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, kết hợp tập quán chăn nuôi gia súc thả rông và hạ tầng vệ sinh lạc hậu. Xác định rõ 3 mục tiêu nghiên cứu, 4 yêu cầu học thuật cùng ý nghĩa khoa học (bổ sung cơ sở dữ liệu quản lý tài nguyên nước nông thôn miền núi) và ý nghĩa thực tiễn (đề xuất giải pháp cải thiện nước sinh hoạt tại chỗ).
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Tổng hợp toàn diện các cơ sở lý luận về môi trường nước, phân loại các dạng ô nhiễm (ô nhiễm sinh học do vi sinh vật gây bệnh đường ruột; ô nhiễm hóa học vô cơ từ kim loại nặng, nitrat, photphat; ô nhiễm chất hữu cơ tổng hợp từ thuốc bảo vệ thực vật; ô nhiễm vật lý làm tăng độ đục, màu, mùi lạ). Khái quát trữ lượng tài nguyên nước trên thế giới đạt khoảng 1,4 tỷ $\text{km}^3$, song nước ngọt chỉ chiếm 3% và nước ngọt có thể sử dụng chỉ chiếm 0,003%.
Về tài nguyên nước tại Việt Nam, tổng lượng dòng chảy mặt hàng năm đạt 830–840 tỷ $\text{m}^3$ nhưng có tới 63% (520–525 tỷ $\text{m}^3$) phụ thuộc vào nguồn ngoại sinh xuyên biên giới; phân bố qua 9 hệ thống sông chính biến động mạnh theo mùa và theo vùng. Dẫn chứng kết quả kiểm nghiệm năm 2006 trên 185 nguồn nước tại 16 xã ở Việt Nam cho thấy tỷ lệ đạt tiêu chuẩn vệ sinh vỏn vẹn 1,1%, ô nhiễm vi sinh vật chiếm tới 72,95% ở mức cao; 25,1% nguồn nước đặt gần nhà tiêu và 65,9% đặt gần chuồng gia súc. Đồng thời đánh giá hệ thống quản lý nhà nước từ Cục Y tế Dự phòng (Bộ Y tế) đến Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh/huyện còn thiếu quy chế phối hợp liên ngành và thiếu nguồn lực tài chính đầu tư.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Quy định cụ thể đối tượng nghiên cứu là nước sinh hoạt nông thôn; phạm vi nghiên cứu tại xã Đức Lương trong giai đoạn từ tháng 9/2015 đến tháng 12/2015. Trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu: kế thừa tài liệu; điều tra xã hội học bằng bảng hỏi đối với 60 hộ dân tại 13 xóm; quy trình quan sát thực địa; phương pháp lấy mẫu 6 vị trí giếng khoan, giếng đào đại diện theo chuẩn TCVN 6663-11:2011; nguyên lý phân tích 8 chỉ tiêu hóa lý tại phòng thí nghiệm chuyên ngành và phương pháp đối chiếu quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu
Đây là chương nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn diện các kết quả điều tra và phân tích:
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội: Xã Đức Lương có tổng diện tích tự nhiên 1.459,28 ha (808,76 ha rừng sản xuất; 170,62 ha đất lúa; 215,68 ha chè; 23 ha thủy sản; 6,25 ha sông suối; 37 ha mặt nước chuyên dùng). Nguồn nước mặt gồm suối Đồng Quan (8 km), suối Đầu Cầu (3 km), suối Lá Dong (5 km), hồ Búi Túc (4,2 ha), hồ Đầm Làng (1,7 ha). Dân số năm 2015 là 2.885 người với 769 hộ tại 13 xóm, trong đó có 2.289 người trong độ tuổi lao động; có 5 dân tộc cùng cư trú (Tày, Nùng, Dao, Kinh, Sán Chí). Kinh tế thuần nông: giá trị trồng trọt đạt 58 triệu đồng/ha, thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 7,0 triệu đồng/người/năm, tỷ lệ hộ nghèo chiếm 57,2%. Hạ tầng thủy lợi có 4 đập xây kiên cố nhưng chỉ có 0,7 km kênh mương được cứng hóa trên tổng số 19,412 km (còn lại 18,712 km kênh đất).
- Hiện trạng sử dụng nước sinh hoạt: 100% hộ dân không sử dụng trực tiếp nước mặt do bị bẩn. Nguồn khai thác chính là giếng khoan chiếm 63,33% (độ sâu 30–45 m) và giếng đào chiếm 31,67% (độ sâu 10–15 m, đường kính 1–1,2 m), nguồn khác chiếm 5%. Tỷ lệ hộ lắp đặt thiết bị lọc nước đạt 45% (27/60 hộ, chủ yếu lọc cát sỏi hoặc bình lọc gia đình), trong khi 55% (33/60 hộ) dùng nước trực tiếp không qua lọc.
- Nguồn phát thải gây ô nhiễm nước: Lượng rác thải sinh hoạt phát sinh bình quân 0,6 kg/người/ngày (toàn xã thải ra khoảng 631,8 tấn/năm), không có hệ thống thu gom tập trung nên rác vứt bừa bãi ra kênh mương, vệ đường. Nhu cầu cấp nước tính mức 20 lít/người/ngày tạo ra lượng cấp 57,7 $\text{m}^3$/ngày và thải ra môi trường 49,05 $\text{m}^3$/ngày nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý. Đàn vật nuôi lớn gồm 1.580 con lợn, 25.460 gia cầm, 300 con trâu, 75 con bò, 320 con dê; tình hình chuồng trại bố trí sát nguồn nước (dưới 10 m). Hiện trạng nhà vệ sinh: 38,33% tự hoại, 51,67% hố xí hai ngăn, 10% vẫn dùng hố xí đất lộ thiên.
- Chất lượng nước và ý kiến cộng đồng: Phân tích thực trạng môi trường nước tại 3 xóm trọng điểm (Tiền Phong, Mon Đình, Đất Đỏ) qua các mẫu giếng đào và giếng khoan gắn với nguy cơ ô nhiễm từ khu chợ, đồi chè, đồng ruộng, ao tù và nghĩa trang chôn cất tự do. Khảo sát ý kiến người dân về cảm quan chất lượng nước và ghi nhận các bệnh tật phổ biến liên quan đến môi trường nước năm 2015.
- Các giải pháp đề xuất: Đưa ra 4 nhóm biện pháp về thể chế chính sách, công tác quản lý môi trường, giải pháp kỹ thuật cụ thể cho giếng đào và giếng khoan, cùng công tác tuyên truyền giáo dục cộng đồng.
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Đưa ra kết luận tổng quát về hiện trạng nguồn nước sinh hoạt xã Đức Lương phụ thuộc vào nước ngầm nhưng đang tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng do chất thải sinh hoạt, chăn nuôi và thói quen canh tác. Kiến nghị UBND huyện Đại Từ và tỉnh Thái Nguyên sớm đầu tư công trình cấp nước sạch tập trung liên thôn/xã, hỗ trợ kinh phí cải tạo nhà tiêu hợp vệ sinh và quy hoạch bãi rác, nghĩa trang tập trung.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
Khóa luận đã định lượng cụ thể thực trạng sử dụng nước và các yếu tố vệ sinh môi trường nông thôn tại xã Đức Lương thông qua số liệu điều tra 60 hộ gia đình:
| Chỉ tiêu điều tra khảo sát |
Phân loại / Hình thức |
Số hộ (n = 60) |
Tỷ lệ (%) |
| Nguồn nước sinh hoạt sử dụng |
Giếng khoan (độ sâu 30–45 m) |
38 |
63,33% |
|
Giếng đào (độ sâu 10–15 m) |
19 |
31,67% |
|
Nguồn khác |
3 |
5,00% |
| Sử dụng thiết bị lọc nước |
Có sử dụng (bể lọc cát sỏi, máy lọc) |
27 |
45,00% |
|
Không sử dụng thiết bị lọc |
33 |
55,00% |
| Loại hình công trình vệ sinh |
Nhà tiêu tự hoại |
23 |
38,33% |
|
Hố xí hai ngăn |
31 |
51,67% |
|
Hố xí đất |
6 |
10,00% |
|
Không có nhà vệ sinh |
0 |
0,00% |
Bên cạnh đó, nghiên cứu đã tính toán các thông số phát thải ô nhiễm thực tế trên địa bàn toàn xã:
- Tải lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh: Định mức 0,6 kg/người/ngày (tương đương 219 kg/người/năm/người). Với quy mô dân số 2.885 người, tổng lượng rác sinh hoạt phát sinh của xã đạt 631,8 tấn/năm, trong đó 50–60% là rác hữu cơ dễ phân hủy nhưng chưa được thu gom hay xử lý kỹ thuật.
- Lượng nước thải sinh hoạt: Tính toán trên cơ sở nhu cầu cấp nước tối thiểu 20 lít/người/ngày (tổng lượng cấp 57,7 $\text{m}^3$/ngày), lượng nước thải sinh hoạt (chiếm khoảng 85% nước cấp) ước đạt 49,05 $\text{m}^3$/ngày, xả trực tiếp vào hệ thống mương thủy lợi và ngấm vào đất.
- Về cảm quan và tương quan nguồn ô nhiễm: Nước giếng khoan sâu có chất lượng cảm quan tương đối trong và ổn định hơn so với giếng đào. Tuy nhiên, các giếng đào có độ sâu nông (9–12 m) chịu nguy cơ ô nhiễm trực tiếp từ nước chảy tràn bề mặt vào mùa mưa, thấm rỉ từ các chuồng trại chăn nuôi lợn (khoảng cách chỉ 8–9 m như hộ ông Lộc Văn Bình xóm Tiền Phong), dư lượng thuốc trừ sâu từ 177 ha đồi chè và nước rỉ từ các khu nghĩa trang chôn cất tự do.
Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất
Tác giả đề xuất hệ thống giải pháp liên hoàn nhằm bảo vệ nguồn nước sinh hoạt tại xã Đức Lương:
- Giải pháp thể chế, chính sách: Lồng ghép các chương trình cấp nước sinh hoạt vào Chương trình mục tiêu quốc gia về Xây dựng nông thôn mới và VSMTNT giai đoạn 2012–2015 theo Thông tư liên tịch 04/2013/TTLT-BNNPTNT-BTC-BKHĐT; thực hiện chính sách hỗ trợ vốn vay ưu đãi cho 438 hộ nghèo để xây dựng công trình cấp nước và nhà vệ sinh tự hoại.
- Giải pháp công tác quản lý: UBND xã Đức Lương cần quy hoạch khẩn cấp bãi chôn lấp rác thải tập trung, chấm dứt tình trạng đổ rác bừa bãi ven sông suối; quy hoạch nghĩa trang nhân dân theo quy chuẩn; tăng cường kiểm tra, giám sát việc thu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng ngoài đồng ruộng và đồi chè.
- Giải pháp kỹ thuật tại chỗ:
- Đối với giếng đào: Cải tạo miệng giếng bằng cách xây thành cao ít nhất 0,8 m so với mặt đất, có nắp đậy kín tránh nước mưa chảy tràn; láng sân xi măng xung quanh có rãnh thoát nước dẫn xa tối thiểu 10 m; định kỳ thau rửa và khử trùng nguồn nước bằng vôi bột hoặc Cloramin B sau mùa ngập lụt.
- Đối với giếng khoan: Bịt kín khe hở quanh miệng ống giếng khoan bằng vữa xi măng; xây dựng bể lọc gia đình gồm các tầng vật liệu (sỏi đỡ, cát vàng thô, than hoạt tính, cát mịn) kết hợp giàn mưa làm thoáng để kết tủa và loại bỏ triệt để hàm lượng sắt tổng số.
- Giải pháp tuyên truyền giáo dục: Phát huy vai trò của Đoàn Thanh niên, Hội đồng nhân dân và các trường học trên địa bàn tổ chức định kỳ các chiến dịch nạo vét kênh mương, hướng dẫn người dân phân loại rác hữu cơ tại hộ gia đình và xây dựng chuồng trại chăn nuôi xa nguồn nước tối thiểu 10–15 m.
Đóng góp của đề tài
Nghiên cứu bổ sung bộ dữ liệu điều tra thực nghiệm chi tiết về hiện trạng khai thác nước sinh hoạt, cơ cấu công trình vệ sinh và tải lượng ô nhiễm phân tán tại xã Đức Lương. Đây là căn cứ khoa học trực tiếp phục vụ chính quyền cấp xã và cơ quan quản lý tài nguyên môi trường huyện Đại Từ xây dựng quy hoạch cấp nước sạch nông thôn và tiêu chí môi trường trong bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Do giới hạn về mặt thời gian và nguồn lực thực hiện (từ tháng 9/2015 đến tháng 12/2015, thuộc mùa khô và chớm đông), đề tài chưa thể theo dõi và quan trắc diễn biến chất lượng nguồn nước ngầm theo chu kỳ đủ các mùa trong năm (đặc biệt là mùa mưa lũ khi nguy cơ ô nhiễm vi sinh và rửa trôi hóa chất nông nghiệp tăng cao). Ngoài ra, số lượng mẫu phân tích hóa lý chuyên sâu mới dừng lại ở 6 mẫu đại diện tại 3 xóm, chưa thể bao quát biến thiên địa chất thủy văn của toàn bộ 13 xóm trên địa bàn xã.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô mạng lưới điểm lấy mẫu quan trắc trên toàn bộ 13 xóm; tiến hành phân tích bổ sung các chỉ tiêu sinh học bắt buộc theo QCVN 02:2009/BYT (Coliform tổng số, E. coli theo phương pháp màng lọc TCVN 6187-1-1996) và các kim loại nặng độc hại (As, Pb, Cd); theo dõi quan trắc biến động nồng độ chất ô nhiễm giữa mùa mưa và mùa khô.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Kỹ thuật Môi trường và Y tế Công cộng khi thực hiện các khóa luận tốt nghiệp hoặc nghiên cứu đánh giá hiện trạng môi trường nông thôn miền núi.
- Phần nội dung đáng tham khảo nhất:
- Quy trình khảo sát thực địa kết hợp điều tra bảng hỏi xã hội học (60 hộ dân) và phân loại nguồn thải nông thôn (rác thải, nước thải sinh hoạt, nhà vệ sinh, chuồng trại chăn nuôi, đồi chè, nghĩa trang).
- Phương pháp thiết kế các giải pháp kỹ thuật xử lý nước ngầm chi phí thấp (bể lọc cát sỏi kết hợp giàn mưa khử sắt, kỹ thuật cải tạo giếng đào hợp vệ sinh) phù hợp tuyệt đối với điều kiện kinh tế khó khăn của các hộ nghèo miền núi.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu nguồn nước sinh hoạt của người dân xã Đức Lương được phân bổ như thế nào?
Theo kết quả điều tra 60 hộ gia đình trên địa bàn 13 xóm năm 2015, người dân không sử dụng trực tiếp nguồn nước mặt (sông, suối, ao, hồ). Nguồn nước sinh hoạt chính là nước giếng khoan chiếm 63,33% (38 hộ), nước giếng đào chiếm 31,67% (19 hộ), và các nguồn khác chiếm 5% (3 hộ). Giếng khoan có độ sâu trung bình từ 30–45 m, giếng đào có độ sâu từ 10–15 m với đường kính 1–1,2 m.
2. Ước tính khối lượng chất thải rắn và lượng nước thải sinh hoạt phát sinh hàng ngày tại xã Đức Lương là bao nhiêu?
Với định mức phát thải rác sinh hoạt bình quân 0,6 kg/người/ngày và quy mô dân số 2.885 người, toàn xã Đức Lương thải ra khoảng 1,73 tấn rác sinh hoạt/ngày (tương đương 631,8 tấn/năm), trong đó chất thải hữu cơ chiếm 50–60%. Về nước thải sinh hoạt, căn cứ mức cấp nước sinh hoạt tối thiểu 20 lít/người/ngày (tổng lượng cấp 57,7 $\text{m}^3$/ngày), lượng nước thải sinh hoạt phát sinh hàng ngày ước tính đạt 49,05 $\text{m}^3$/ngày (chiếm khoảng 85% lượng nước cấp).
3. Vị trí 6 mẫu nước giếng khoan và giếng đào được bố trí lấy tại những điểm nào và gắn với những nguy cơ ô nhiễm gì?
6 mẫu nước được lấy vào ngày 27/11/2015 tại 3 xóm đại diện:
- Xóm Tiền Phong: MK1 (giếng khoan 30 m tại nhà ông Lộc Văn Bình, cách chuồng lợn 8–9 m); MĐ1 (giếng đào 12 m tại nhà ông Nguyễn Văn Tuấn, cách nghĩa trang 200 m).
- Xóm Mon Đình: MK2 (giếng khoan 55 m tại nhà bà Dương Thị Tâm, cách khu chợ xóm 100 m); MĐ2 (giếng đào 10 m tại nhà ông Lý Văn Hảo, cách đồi chè canh tác 150 m).
- Xóm Đất Đỏ: MK3 (giếng khoan 40 m tại nhà bà Nguyễn Thị Hạnh, cách đồng ruộng 100 m); MĐ3 (giếng đào 9 m tại nhà ông Lý Văn Cường, cách ao 50 m và có nước thải sinh hoạt đổ trực tiếp ra đất xung quanh).
4. Thực trạng sử dụng thiết bị lọc nước và tình hình công trình vệ sinh của các hộ dân tại địa phương ra sao?
Trong số 60 hộ điều tra, có 27 hộ có sử dụng thiết bị lọc nước (chiếm 45%), còn lại 33 hộ không sử dụng thiết bị lọc (chiếm 55%). Thiết bị lọc phổ biến là bể lọc thủ công dùng cát sỏi hoặc bình lọc gia đình. Về công trình vệ sinh, có 23 hộ sử dụng nhà tiêu tự hoại (38,33%), 31 hộ sử dụng hố xí hai ngăn (51,67%) và 6 hộ vẫn sử dụng hố xí đất không hợp vệ sinh (10%); 100% hộ dân điều tra đều có nhà vệ sinh.
5. Tác giả đề xuất những giải pháp kỹ thuật cụ thể nào để bảo vệ và xử lý nước giếng đào và giếng khoan?
Đối với giếng đào, cần xây thành giếng cao tối thiểu 0,8 m, đậy nắp kín, láng sân xi măng dốc có rãnh thoát nước cách xa trên 10 m, thau rửa khử trùng định kỳ bằng vôi bột hoặc Cloramin B. Đối với giếng khoan, cần bịt kín miệng giếng bằng xi măng tránh nước bề mặt rò rỉ, đồng thời xây dựng bể lọc cát sỏi kết hợp giàn phun mưa làm thoáng để khử triệt để hàm lượng sắt tổng số trong nước ngầm trước khi sử dụng.
Kết luận
Khóa luận của Chu Thị Thanh Hải đã phản ánh chân thực bức tranh hiện trạng môi trường nước sinh hoạt tại xã Đức Lương, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên thông qua việc kết hợp chặt chẽ giữa điều tra xã hội học 60 hộ dân và khảo sát thực địa các nguồn gây ô nhiễm. Nghiên cứu chỉ ra sự phụ thuộc hoàn toàn của cộng đồng địa phương vào nguồn nước ngầm (giếng khoan 63,33%, giếng đào 31,67%) trong khi chất lượng nước đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi 49,05 $\text{m}^3$/ngày nước thải sinh hoạt chưa xử lý, rác thải chưa thu gom và chuồng trại chăn nuôi bố trí sát nguồn cấp nước. Hệ thống giải pháp được đề xuất từ quản lý, chính sách đến kỹ thuật xử lý tại chỗ mang tính khả thi cao, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác bảo vệ sức khỏe cộng đồng và quy hoạch nông thôn mới tại địa phương.