Đặt vấn đề Nước là một trong những nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng đối với con người cũng như mọi sinh vật sống trên trái đất. Sự sống của con người không thể tồn tại nếu không có nước. Nước được dùng trong các hoạt độngnông nghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường. Tuy nhiên, 97% nước trên Trái Đất là nước muối, chỉ 3% còn lại là nước ngọt nhưng gần hơn 2/3 lượng nước này tồn tại ở dạng sông băng và các mũ băng ở các cực.
Phần còn lại không đóng băng được tìm thấy chủ yếu ở dạng nước ngầm, và chỉ một tỷ lệ nhỏ tồn tại trên mặt đất và trong không khí. Tại Việt Nam, hiện chỉ có khoảng 60% đô thị có hệ thống cấp nước tập trung.Tiêu chuẩn cấp nước đối với đô thị trung bình và nhỏ là ở mức 75-80 lít/người/ngày, đối với các đô thị lớn là 100-150 lít/người/ngày. Có khoảng 40% dân số thành thị bị thiếu nước và tỉ lệ người dân nông thôn được cấp nước sạch cũng chỉ ở mức 40-60% (Lê Quốc Tuấn và cs, 2013)[10].Qua các số liệu trên ta thấy rằng nhu cầu nước sạch phục vụ sinh hoạt của vùng nông thôn Việt Nam còn rất lớn, càng bức xúc hơn trong điều kiện nguồn nước ngày càng bị ô nhiễm nặng do chất thải công nghiệp và chất thải từ sản xuất nông nghiệp (hóa chất bảo vệ thực vật), chất thải sinh hoạt từ người dân chưa được quan tâm, xử lý triệt để. Cung cấp nước sạch đầy đủ và sạch là một trong những điều kiện cơ bản để bảo vệ sức khỏe cho con người.
Quốc gia sẽ không thể phát triển bền vững nếu như không tiếp tục bảo vệ môi trường sống, không đảm bảo nước sạch sinh hoạt. Thấy được tầm quan trọng của vấn đề nước sạch sinh hoạt Đảng và Nhà Nước ta đã phối hợp cùng với các tổ chức kinh tế- xã hội trong nước và sự giúp đỡ của các tổ chức Quốc Tế, nhà nước ta đang từng bước giải quyết vấn n 2 đề nước sạch cho người dân. Tuy nhiên, việc thực hiện còn chưa triệt để, nhu cầu được hưởng nước sạch vẫn còn là điều mơ ước của người dân đặc biệt là người dân miền núi, vùng sâu, vùng xa. Đức Lương là một xã miền núi vùng sâu vùng xa , kinh tế còn gặp nhiều khó khăn,nông nghiệp chiếm tỉ trọng lớn trong thu nhập.
Những năm gần đây việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật đã làm tăng năng suất cây trồng và vật nuôi, tuy nhiên các hoạt động sản xuất sử dụng nhiều phân bón và thuốc trừ sâu đã có tác động xấu không nhỏ đến môi trường đất, môi trường không khí, đặc biệt là nguồn nước mặt và nước ngầm.Ô nhiễm nguồn nước đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và sức khỏe của người dân trong xã và khu vực lân cận. Nguồn nước dùng cho sinh hoạt tại xã Đức Lương gồm nhiều nguồn khác nhau như: nước nguồn, nước mưa, nước giếng,… nhưng chủ yếu là nước giếng (giếng đào và giếng khoan). Nhằm đánh giá được thực trạng chất lượng nước đang sử dụng tại địa phương, tìm ra những nguyên nhân gây ô nhiễm, từ đó đưa ra một số giải pháp để khắc phục những nguy cơ ô nhiễm, đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch tại địa phương, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá hiện trạng môi trường nước sinh hoạt tại xã Đức Lương, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên". Mục đích, yêu cầu và ý nghĩa của đề tài 1.Mục đích của đề tài - Đánh giá hiện trạng môi trường nước sinh hoạt tại xã Đức Lương, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Xác định những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước trên địabàn xã Đức Lương, huyên Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. n 3 - Đề xuất một số biện pháp khắc phục, giảm thiểu tình trạng ô nhiễm nước sinh hoạt và cung cấp nước sạch nhằm nâng cao chất lượng nước sinh hoạt, đáp ứng nhu cầu nước sạch của người dân địa phương. Yêu cầu của đề tài - Đánh giá đúng hiện trạng môi trường nước sinh hoạt tại xã Đức Lương, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. - Đảm bảo tài liệu, số liệu đầy đủ, trung thực, khách quan.
- Kết quả phân tích các thông số về chất lượng nước chính xác. - Đảm bảo những kiến nghị, đề nghị đưa ra tính khả thi, phù hợp với điều kiện địa phương. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa khoa học: Phát hiện mới của đề tài góp phần bổ sung cơ sở khoa học trong quản lý và sử dụng nước sinh hoạt ở vùng nông thôn. - Ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở đánh giá được hiện trạng, đề xuất được một số giải pháp phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch của người dân tại địa phương.
n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở lý luận của đề tài - Khái niệm môi trƣờng: Theo khoản 1 điều 3 luật bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2014, môi trường được định nghĩa như sau: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”. - Khái niệm ô nhiễm môi trƣờng: Theo khoản 8 điều 3 luật BVMT Việt Nam năm 2014 “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật. - Khái niệm Quy chuẩn kỹ thuật môi trường: Theo khoản 5 điều 3 luật bảo vệ môi trường 2014: “Quy chuẩn kỹ thuật môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản bắt buộc áp dụng để bảo vệ môi trường.” - Khái niệm tiêu chuẩn môi trường: Theo khoản 5 điều 3 luật bảo vệ môi trường 2014:“Tiêu chuẩn môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được các cơ quan nhà nước và các tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để bảo vệ môi trường.” n 5 - Nƣớc và một số khái niệm liên quan: Trong tự nhiên nước tồn tại ở cả 3 dạng: rắn, lỏng, khí, nước đóng băng ở 00C nước có khối lượng riêng lớn nhất.
Nước tham gia vào rất nhiều phản ứng hóa học, ở nhiệt độ bình thường nước không màu, không mùi, không vị. - Nguồn nước sinh hoạt: là nước dùng để ăn uống, vệ sinh của con người. “Nước sạch” là nước đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng nước sạch Việt Nam. - Phát triển tài nguyên nước: là biện pháp nhằm nâng cao khả năng khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên nước và nâng cao giá trị của tài nguyên nước.
- Nước sạch quy ước: gồm các nguồn nước sau (theo hướng dẫn của Ban chỉ đạo Quốc gia về cấp nước sạch và VSMTNT): + Nước máy hoặc nước cấp từ các trạm bơm nước. + Nước giếng khoan có chất lượng tốt và ổn định. + Nước mưa hứng và trữ sạch. + Nước mặt (nước sông, suối, ao) có xử lý bằng lắng trong và tiệt trùng - Nước sạch là nước có chất lượng đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật về nước sạch của Việt Nam.
- Khái niệm ô nhiễm nước Ô nhiễm nước là hiện tượng các vùng nước như sông, hồ, biển, nước ngầm…bị các hoạt động của con người làm nhiễm các chất có thể gây hại cho con người và cuộc sống các sinh vật trong tự nhiên. Hiến chương châu Âu về nước đã định nghĩa: “Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, cho động vật nuôi và các loài hoang dã”. (Trần Yêm và cs, 1998) [14] n 6 Như vậy, ô nhiễm nước là sự biến đổi tính chất vật lí, tính chất hóa học và thành phần sinh học của nước không phù hợp với các tiêu chuẩn, quy chuẩn ký thuật cho phép, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật. Suy thoái nguồn nước là sự suy giảm về số lượng, chất lượng nguồn nước đã được quan trắc trong các thời kỳ trước đó.
Nguồn gốc gây ô nhiễm có thể do tự nhiên hoặc do nhân tạo. Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên như mưa rơi kéo theo bụi thải của các khu công nghiệp. Ngoài ra, nước bị ô nhiễm còn phải kể đến sự có mặt của các xác động thực vật chết. Ô nhiễm nhân tạo chủ yếu do các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, giao thông vận tải,… Các xu hướng chính thay đổi chất lượng nước bị ô nhiễm là (Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, 1995)[1]: - Giảm độ pH của nước ngọt do ô nhiễm bởi H2SO4, HNO3 từ khí quyển, tăng hàm lượng SO2- và NO3- trong nước.
- Tăng hàm lượng các ion Ca2+, Mg2+, SiO32- trong nước ngầm và nước sông do nước mưa hòa tan, phong hóa quặng cacbonat. - Tăng hàm lượng các muối trong nước bề mặt và nước ngầm do chúng đi vào môi trường nước cùng nước thải, từ khí quyển và từ các chất thải rắn. - Tăng hàm lượng các chất hữu cơ, trước hết là các chất khó bị phân hủy bằng con đường sinh học( các chất hoạt động bề mặt và thuốc trừ sâu). - Tăng hàm lượng các ion kim loại trong nước tự nhiên, trước hết là: Pb3+, Cd+, Hg2+, Zn2+, As3+, Fe2+, Fe3+… - Giảm nồng độ oxy tự nhiên hòa tan trong nước tự nhiên do quá trình oxy hóa các hợp chất hữu cơ trong điều kiện yếm khí.
- Giảm độ trong của nước n 7 2. Cơ sở pháp lý - Luật Bảo vệ Môi trường số: 55/2014/QH13 đã được Quốc hội khóa 13, kỳ hợp thứ 7 thông qua ngày 23/6/2014. Luật BVMT 2014 gồm 20 chương và 170 điều. Luật Bảo vệ Môi trường 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2015.
- Luật Tài nguyên nước của Quốc Hội số 17/2012/QH13 ngày 21 tháng 6 năm 2012. - Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 08 năm 2006 của Chính Phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường. - Nghị định 21/2008/NĐ-CP ban hành ngày 08/02/2008 của Chính phủ về sửa đổi và bổ sung một số điều của nghị định 80/2006/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.