Đặt vấn đề Nhìn chung nông thôn Việt Nam có cảnh quan thiên nhiên phong phú, đa dạng, giàu giá trị văn hoá và môi trường trong lành. Tuy nhiên, hiện tại nông thôn Việt Nam đang chịu tác động sâu sắc của quá trình hướng tới xã hội công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang diễn ra ở nước ta. Nhiều tác động diễn ra hàng ngày làm thay đổi tận gốc cách làm ăn, cách nghĩ của con người cũng như môi trường sống của họ. Chất lượng cuộc sống của con người hiện nay không chỉ là những điều kiện về ăn, mặc, ở…mà còn về chất lượng không khí hít thở hằng ngày, chất lượng nước để uống, tắm rửa…Vì vậy, các bộ ngành các chính quyền địa phương trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải nhìn từ góc độ tổng quan về môi trường để có quyết định phát triển ở địa phương mình.
“Nước ta là một nước nông nghiệp với 75% dân số và nguồn lực lao động xã hội đang sinh sống và làm việc ở khu vực nông thôn, với hơn 3 triệu hộ nông dân, lực lượng sản xuất này chiếm vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội. Theo số liệu thống kê (2006-2010), nông thôn tạo ra khoảng 1/3 tổng sản phẩm quốc dân. Tỷ trọng công nghiệp mới chiếm 13,8%, dịch vụ 14,7%, nông nghiệp 71,45% trong tổng giá trị sản xuất. Tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu thu nhập của nông dân giữa thành thị và nông thôn là 2 lần và có khả năng tăng lên.
Hơn 90% số hộ nghèo tập trung ở vùng nông thôn” (Nguyễn Ngọc Nông, 2006).[8] Do đặc điểm khác nhau về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội, cho nên các vùng nông thôn Việt Nam có nét đặc thù riêng và chất lượng môi trường có sự biến đổi khác nhau. Thái Nguyên là tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, xã Đắc Sơn là xã thuần nông thuộc huyện Phổ Yên, nông dân chủ yếu là sản n 2 xuất nông nghiệp và chăn nuôi số hộ được sử dụng nước sạch còn thấp. Việc thu gom, xử lý rác thải từ trước tới nay do từng hộ nông dân xử lý, xã chưa có lực lượng thu gom. Vì vậy tình trạng rác thải vứt bừa bãi, hôi thối gây ô nhiễm không chỉ ảnh hưởng đời sống của các hộ nông dân trong xã mà còn ảnh hưởng đến mỹ quan chung của huyện.
Nhận thức của người dân về việc thu gom, xử lý rác thải trong quá trình chăn nuôi và sinh hoạt lại chưa cao, xác súc vật chết đều đổ ra sông, suối gần nhà và quanh vườn; Nhà tiêu không đảm bảo vệ sinh…đây là những nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường, phát sinh dịch bệnh trên địa bàn xã thời gian qua, ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng, phá huỷ cân bằng môi trường. Xuất phát từ vấn đề đó, được sự nhất trí của ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Tài nguyên và Môi trường - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của TS.Lê Văn Thơ, Giảng viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em tiến hành thực hiện đề tài: “Điều tra, đánh giá hiện trạng môi trường nông thôn tại xã Đắc Sơn - huyện Phổ Yên - tỉnh Thái Nguyên”. Mục đích của đề tài - Điều tra, đánh giá hiện trạng môi trường nông thôn tại xã Đắc Sơn - huyện Phổ Yên - tỉnh Thái Nguyên. - Đánh giá sự hiểu biết của người dân về vấn đề môi trường.
- Đề xuất các giải pháp bảo vệ và quản lý môi trường tại địa phương.3 Yêu cầu của đề tài - Phỏng vấn đại diện các tầng lớp, các lứa tuổi làm việc ở các ngành nghề khác nhau. - Thu thập các thông tin, tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại xã Đắc Sơn. - Số liệu thu thập phải chính xác, khách quan, trung thực. n 3 - Tiến hành điều tra theo bộ câu hỏi; bộ câu hỏi phải dễ hiểu đầy đủ các thông tin cần thiết cho việc đánh giá.
- Các kiến nghị được đưa ra phải phù hợp với tình hình địa phương và có tính khả thi cao. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: + Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này. + Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu. - Ý nghĩa trong thực tiễn: + Kết quả của chuyên đề sẽ góp phần nâng cao được sự quan tâm của người dân về việc bảo vệ môi trường.
+ Làm căn cứ để cơ quan chức năng tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục nhận thức của người dân về môi trường. + Xác định hiện trạng môi trường nông thôn tại xã Đắc Sơn - huyện Phổ Yên - tỉnh Thái Nguyên. + Đưa ra các giải pháp bảo vệ môi trường cho khu vực nông thôn thuộc tỉnh Thái Nguyên nói chung. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở lý luận - “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại, sự phát triển của con người và sinh vật” (Luật bảo vệ môi trường, 2005) [10]. - Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật. [10] - Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong sạch, phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học. [10] “Nâng cao chất lượng môi trường là mục đích chủ yếu của công tác BVMT.
Chất lượng môi trường phản ánh mức độ phù hợp của môi trường đối với sự tồn tại, phồn vinh cũng như sự phát triển kinh tế xã hội của nhân loại. ở những năm 60 cùng với sự xuất hiện vấn đề chất lượng môi trường cũng ngày càng được quan tâm. Người ta dần dần định mức độ tốt xấu của môi trường, để biểu thị mức độ môi trường bị ô nhiễm” (Lê Văn Khoa và cs, 2003) [5]. Một số đặc điểm về hiện trạng và xu thế diễn biến môi trường trên Thế giới và trong nước.
Một số đặc điểm về hiện trạng và xu thế diễn biến môi trường trên Thế giới Theo Lê Thạc Cán và cs (1995) [2]. Trong những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, tình hình môi trường ở trên Thế giới hiểu theo nghĩa rộng bao n 5 gồm cả nhân tố về chất lượng môi trường và tài nguyên thiên nhiên, có những đặc điểm sau: * Tăng trưởng dân số nhanh: Dân số Thế giới đã lên tới 5,769 tỷ người và tiếp tục tăng tới 8,5 tỷ trong 3 thập kỷ tới. Trong đó, 83,5% là dân số các nước đang phát triển. Sau năm 2025, tốc độ tăng dân số sẽ chậm lại và lên tới 10 tỷ vào năm 2050.
Tốc độ tăng trưởng dân số Thế giới là 1,68% trong thời gian từ năm 1990-1995 đã giảm xuống còn 1,43% trong thời gian từ năm 2010-2015. Hiện nay mỗi năm trên Trái đất có khoảng 93 triệu trẻ sơ sinh, vào đầu thế kỷ XXI con số này là 92 triệu. Ở Châu á tốc độ tăng trưởng dân số hiện nay là 1,78% và sẽ giảm xuống còn 1,39% trong thời gian từ năm 2010-2015. Những vấn đề về tài nguyên môi trường mà tăng trưởng dân số đặt ra là: - Lương thực: Trái đất đủ sức nuôi sống hai lần dân số hiện nay không? việc thiếu hụt lương thực cho dù chỉ là 10-20% lượng cần thiết sẽ dẫn đến hậu quả gì? - Nhà ở và các nhu cầu vệ sinh, sức khoẻ, dịch vụ: xã hội loài người hiện nay có đủ khả năng sản xuất, phân phối cho mỗi con người các điều kiện cần thiết để duy trì cuộc sống tương xứng với văn minh mà con người đã xác định được sau quá trình phát triển trên 1 triệu năm? - Chất lượng môi trường: Có phải lúc dân số tăng lên 2 lần thì các nguồn ô nhiễm cũng tăng lên như vậy hay không? * Suy giảm tài nguyên đất: Hậu quả môi trường gắn liền trực tiếp với gia tăng dân số và suy giảm tài nguyên đất.
Theo số liệu của viện Tài nguyên Thế giới, vào năm 1993 quĩ đất cho toàn nhân loại là 13.041,7 triệu ha, trong đó trồng trọt chiếm khoảng 20,6%, đồng cỏ 69,6%. Diện tích đất bình quân đầu người trên toàn Thế giới n 6 là 2.432 ha, ở Châu á là 0,81 ha, ở Châu Âu là 0,91 ha. Phần lớn đất trồng trọt tăng thêm chủ yếu lấy từ đất rừng, gây nên những hậu quả xấu về môi trường. * Đô thị hoá mạnh mẽ: Dân số đô thị tăng lên nhanh chóng với tốc độ 3% hàng năm cho toàn Thế giới và 3-5% cho khu vực Châu á - thái Bình Dương.
Năm 1995, 45% dân số Thế giới sống ở các đô thị. Dự báo đến năm 2020 tại các nước đang phát triển trong khu vực 50% dân số ở các đô thị và tại các nước phát triển tỷ lệ này là 75%. * Hình thành các siêu đô thị: Xu thế đô thị hoá này sẽ dẫn đến sự hình thành các siêu đô thị với dân số trên 4 triệu người. Sự hình thành các siêu đô thị tất cả các nước đều gây nên những khó khăn và phức tạp về môi trường sống: Ô nhiễm do công nghiệp, giao thông vận tải, tiêu tốn nhiều vật liệu năng lượng, xử lý rác thải và các vấn đề xã hội.
Tại các nước đang phát triển, những vấn đề về môi trường lại càng trở nên phức tạp do sự hình thành các nhóm dân cư nghèo khổ phải sống trong các khu “ổ chuột”, thiếu thốn về điều kiện vệ sinh, tiện nghi, đời sống vật chất, văn hoá, xã hội; hoặc nhiều người lớn thất nghiệp, trẻ em lang thang cơ nhỡ hình thành các nhóm dân cư “hè phố” với cuộc sống thiếu thốn, bất định. * Mất cân đối dân số đô thị và nông thôn: Dân số nông thôn Thế giới hiện nay đang tăng rất nhanh với tốc độ 1%. Tại khu vực Châu á - Thái Bình Dương tốc độ này là 1-2. Với xu thế này sự phân bố dân cư đô thị và nông thôn ngày càng mất cân bằng.
Một mặt lực lượng lao động trẻ sẽ bị thu hút vào đô thị gây thêm những căng thẳng về môi trường; mặt khác, tại nông thôn do thiếu lực lượng lao động trẻ, khoẻ, công tác phục hồi suy thoái vì vậy sẽ gặp nhiều khó khăn.