Đặt vấn đề Trong tình hình phát triển của nước ta hiện nay, “sự phát triển kinh tế, đô thị và quá trình công nghiệp hóa làm cho nhu cầu về nhà ở cũng như đất xây dựng các công trình công cộng, khu công nghiệp trong cả nước càng tăng cao” [1]. Mặt khác ở nhiều vùng, nhiều khu vực của nước ta vẫn còn tồn tại sự lạc hậu đói nghèo, trình độ văn hóa còn thấp sử dụng đất chưa hợp lý. Việc sử dụng đất đai ở nhiều nơi còn chưa phù hợp và chưa đúng với quy hoạch, chưa phát huy triệt để, đặc biệt là ở cấp dưới (xã, phường, thị trấn). Do những nguyên nhân nhất định mà công tác quản lý đất đai ở nhiều nơi còn buông lỏng, hoặc biện pháp quản lý chưa phù hợp, chưa đạt được kết quả như mong muốn.
Quản lý nhà nước về đất đai tốt hay xấu có tác động rất lớn đến nhiều lĩnh vực, nhiều mặt của kinh tế - xã hội, nhất là trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường như: việc thu hút đầu tư (phụ thuộc vào quy định của nhà nước, quyền và nghĩa vụ của các nhà đầu tư, giá đất, tiến độ giải phóng mặt bằng, thủ tục hành chính…); sự ổn định chính trị - xã hội (liên quan đến thu nhập, việc làm của người dân, tình hình khiếu nại, tranh chấp đất đai…), chính vì thế, vấn đề quản lý và sử dụng đất đai ngày càng trở nên quan trọng hơn đối với đời sống của mỗi người dân và sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992, Nhà nước ta đã ban hành Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998, năm 2001 và ban hành Luật Đất đai năm 2003 cùng nhiều văn bản pháp quy dưới luật như: Nghị quyết, Nghị định, Quyết định, Chỉ thị, Thông tư hướng dẫn. đi kèm đã giúp rất nhiều cho việc nắm chắc, quản lý chặt chẽ quỹ đất của quốc gia cũng như phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế đất nước trong thời kì đổi mới. Tuy nhiên trong thực tế quá trình thực hiện Luật đất đai cũng như các quy định khác vẫn còn nhiều hạn chế trong khâu tổ chức thực hiện.
Nhiều văn bản tính chất pháp lý còn chồng chéo và mâu thuẫn. Do vậy, quản lý nhà n 11 nước về đất đai theo đúng pháp luật, đúng đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước là vấn đề cần được quan tâm và giải quyết. Thị trấn Yến Lạc, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn cũng không nằm ngoài thực tế đó. Mặc dù trong thời gian qua được sự quan tâm của các cấp, các ngành song công tác quản lý nhà nước về đất đai còn gặp nhiều hạn chế khó khăn do nhiều nguyên nhân tác động và cần được giải quyết trong thời gian tới.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, sự phân công của Ban chủ nhiệm khoa Quản lý Tài nguyên Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của cô giáo Th.s Ngô Thị Hồng Gấm em tiến hành nghiên cứu đề tài : “ Đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai tại thị trấn Yến Lạc - huyện Na Rì – tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010 – 2013”.Mục đích nghiên cứu Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về đất đai của thị trấn Yến Lạc, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010 – 2013. Qua đó đề xuất những giải pháp khả thi để phục vụ cho quá trình quản lý và sử dụng đất đai hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao trong thời gian tiếp theo.Mục tiêu nghiên cứu Trên cơ sở thực trạng công tác quản lý nhà nước về đất đai của thị trấn Yến Lạc giai đoạn 2010 - 2013 sẽ tiến hành đánh giá những thành tựu và hạn chế để tìm ra nguyên nhân và đề xuất biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về đất đai trong thời gian tới.Ý nghĩa của đề tài - Trong học tập và nghiên cứu khoa học: Củng cố những kiến thức đã học và bước đầu làm quen với công tác quản lý nhà nước về đất đai ngoài thực tế. - Trong thực tiễn: Đề tài nghiên cứu tình hình quản lý Nhà nước về đất đai của thị trấn Yến Lạc từ đó đưa ra những giải pháp giúp cho công tác quản lý nhà nước về đất đai của huyện được tốt hơn. n 12 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.Cơ sở khoa học 2.Những hiểu biết chung về quản lý Nhà nước về đất đai Quản lý nhà nước về đất đai nhằm bảo vệ quyền sở hữu nhà nước đối với đất đai, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất; đảm bảo sử dụng hợp lý quỹ đất đai của đất nước; tăng cường hiệu quả sử dụng đất; đồng thời bảo vệ đất, cải tạo đất và bảo vệ môi trường.
Để thực hiện được những mục tiêu quan trọng về quản lý đất đai, Nhà nước ta đề ra là: “ Nhà nước quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả ”[3]. Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều văn bản trong đó nội dung của các văn bản luôn đi đúng trọng tâm, luôn định hướng phát triển theo con đường XHCN. Hiến pháp năm 1980 và Luật Đất đai 1993; Luật Đất đai 2003 đều ghi rõ “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý ”[2] [4][5]. Tại Luật Đất đai năm 1987 đã ban hành 7 nội dung về quản lý nhà nước về đất đai [3] như sau: - Điều tra, khảo sát, đo đạc, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính.
- Quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất. - Quy định các chế độ, thể lệ về quản lý, sử dụng đất và tổ chức thực hiện các chế độ, thể lệ đấy. - Giao đất và thu hồi đất. - Đăng ký đất đai, lập và giữ sổ địa chính, thống kê đất đai và cấp GCNQSD đất.
- Thanh tra và chấp hành các chế độ, thể lệ quản lý, sử dụng đất. - Giải quyết các tranh chấp đất đai. n 13 Đáp ứng với yêu cầu mới, thời đại mới trong công tác quản lý đất đai, những nội dung trong Luật Đất đai năm 1987 đã có nhiều thiếu sót chưa thể đáp ứng được yêu cầu phát triển về quản lý đất đai còn nhiều bất cập. Năm 1993, Luật Đất đai sửa đổi đã được ban hành và tại điều 13 quy định 7 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai [4] như sau: - Điều tra, khảo sát, đo đạc, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính.
- Quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất. - Ban hành các văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng đất và tổ chức thực hiện các văn bản đó. - Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất. - Đăng ký đất đai, lập và quản lý sổ địa chính, quản lý các hợp đồng sử dụng đất, thống kê, kiểm kê đất và cấp GCNQSD đất.
- Thanh tra việc chấp hành các chế độ thể lệ về quản lý và sử dụng đất đai. - Giải quyết các tranh chấp đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm việc quản lý sử dụng đất đai. Bảy nội dung này đã tạo ra cơ sở khoa học và tính pháp lý vững chắc cho công tác quản lý sử dụng đất. Mặt khác, các nội dung này có mối quan hệ biện chứng với nhau tạo ra những tiền đề bổ sung, hỗ trợ cho nhau nhằm thiết lập một cơ chế quản lý đất đai chặt chẽ thống nhất từ Trung ương đến địa phương đảm bảo đất đai được sử dụng hợp lý, tiết kiệm, mang lại hiệu quả cao và bền vững theo thời gian.
Hiện nay, Luật đất đai luôn được hoàn thiện để phục vụ cho hoạt động chuyển dịch cơ cấu kinh tế, quy hoạch sử dụng đất, các chính sách đất đai và chính sách xã hội. Đáp ứng yêu cầu trên, ngày 26/11/2003 Luật Đất đai 2003 ra đời và tại điều 6 Luật Đất đai 2003 đã quy định 13 nội dung về quản lý Nhà nước về đất đai [5], cụ thể: - Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó. - Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính. n 14 - Khảo sát, đo đạc, đánh giá phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất.
- Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. - Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất. - Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp GCNQSD đất. - Thống kê, kiểm kê đất đai.
- Quản lý tài chính về đất đai. - Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản. - Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đai. - Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm về đất đai.
- Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai. - Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai. Nghị định số 181/2004/NĐ-CP, ngày 29/10/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003. Thông tư số 30/TT-BTN & MT ngày 01/11/2004 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Các loại bản đồ: Bản đồ địa giới hành chính 364; bản đồ giải thửa; bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2013, bản đồ quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011 - 2015. * Đối với các cơ quan quản lý: Luật quy định những nội dung quản lý chung cho tất cả các cấp, quy định rõ trách nhiệm và thẩm quyền riêng cho từng cấp. n 15 * Đối với người sử dụng: Luật quy định các quyền của người sử dụng đất được nhà nước bảo hộ hợp pháp và buộc họ phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước. Nhà nước giao cho các chủ sử dụng đất, đồng thời cũng trao cho họ những quyền và nghĩa vụ nhất định.