Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát về công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng Giải phóng mặt bằng là một quá trình đa dạng và phức tạp, bao gồm các công tác từ việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, người dân nhận đất tái định cư di chuyển đến nơi ở mới và chính sách hỗ trợ cho người dân, tạo điều kiện cho họ ổn định đời sống sản xuất. Tính đa dạng và phức tạp của công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng thể hiện khác nhau đối với mỗi dự án, nó liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên tham gia và lợi ích của xã hội. Tính đa dạng thể hiện: Mỗi một dự án được tiến hành trên những khu vực có điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và trình độ dân trí khác nhau.
Đối với các khu vực khác nhau như khu thành thị, khu ven đô, khu ngoại thành hay khu nông thôn… thì kết cấu dân cư, kết cấu lao động, mức thu nhập… cũng khác nhau. Do đó, việc giải phóng mặt bằng cũng được tiến hành với những điểm riêng biệt. Tính phức tạp thể hiện: Đất đai là tài sản có giá trị kinh tế lớn, có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội. Đối với khu vực nông thôn là nơi mà dân cư sinh sống chủ yếu bằng hoạt động sản xuất nông nghiệp thì đất đai là tư liệu sản xuất chính.
Hơn nữa ở khu vực này trình độ dân trí của người dân còn hạn chế, khả năng chuyển đồi nghề nghiệp là rất khó khăn cho nên công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng có tác động rất lớn đến đời sống sản xuất của nông dân. Đối với các khu vực thành thị là nơi có mật độ dân cư tập trung đông đúc, đất đai ở đây có giá trị còn lớn hơn nhiều so với khu vực nông thôn. Vì vậy công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng lại càng có vai trò quan trọng. Quá trình thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng phải đảm bảo hài hòa các lợi ích: Lợi ích của người dân bị thu hồi đất, n 5 lợi ích của chủ đầu tư dự án, lợi ích của Nhà nước.
Thực hiện mục tiêu giữ vững ổn định và phát triển của đất nước. Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài 1. Cơ sở khoa học của đề tài * Luật đất đai năm 2003 giải thích từ ngữ: - Thu hồi đất: Là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này. - Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất: Là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất.
- Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất: Là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới. - Tái định cư: Là việc Nhà nước bố trí chỗ ở cho người có đất bị thu hồi mà phải di chuyển chỗ ở thì người sử dụng đất được bố trí chỗ ở. * Theo điều 42 Luật đất đai 2003 của nước ta về bồi thường, tái định cư cho người có đất bị bồi thường: 1. Nhà nước thu hồi đất của người sử dụng đất mà người bị thu hồi đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định thì người bị thu hồi đất được bồi thường.
Người bị thu hồi loại đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập và thực hiện các dự án tái định cư trước khi thu hồi đất để bồi thường bằng nhà ở, đất ở cho người bị thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở. Khu tái định cư được n 6 quy hoạch chung cho nhiều dự án trên cùng một địa bàn và phải có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ. Trường hợp không có khu tái định cư thì người bị thu hồi đất được bồi thường bằng tiền và được ưu tiên mua hoặc thuê nhà ở thuộc sở hữu của Nhà nước đối với khu vực đô thị; bồi thường bằng đất ở đối với khu vực nông thôn, trường hợp giá trị quyền sử dụng đất ở bị thu hồi lớn hơn đất ở được bồi thường thì người bị thu hồi đất được bồi thường bằng tiền đối với phần chênh lệch đó.
Trường hợp thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất mà không có đất để bồi thường cho việc tiếp tục sản xuất thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền, người bị thu hồi đất còn được Nhà nước hỗ trợ để ổn định đời sống, đào tạo chuyển đổi ngành nghề, bố trí việc làm mới. Trường hợp người sử dụng đất được Nhà nước bồi thường khi thu hồi đất mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai theo quy định của pháp luật thì phải trừ đi giá trị nghĩa vụ tài chính chưa thực hiện trong giá trị được bồi thường, hỗ trợ. Chính phủ quy định việc bồi thường, tái định cư cho người có đất bị thu hồi và việc hỗ trợ để thực hiện thu hồi đất. [31] * Theo điều Điều 16 Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 quy định về bồi thường đất nông nghiệp: 1.
Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi được bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng; nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền tính theo giá đất cùng mục đích sử dụng. Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất nông nghiệp đang sử dụng vượt hạn mức thì việc bồi thường được thực hiện như sau: n 7 3. Trường hợp diện tích đất vượt hạn mức do được thừa kế, tặng cho, nhận chuyển nhượng từ người khác, tự khai hoang theo quy hoạch được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì được bồi thường; 4. Diện tích đất vượt hạn mức của các trường hợp không thuộc quy định này thì không được bồi thường về đất, chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại.
Trường hợp đất thu hồi là đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn thì không được bồi thường về đất, người thuê đất công ích của xã, phường, thị trấn được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông, lâm trường quốc doanh khi Nhà nước thu hồi thì được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại. Đất nông nghiệp sử dụng chung của nông trường, lâm trường quốc doanh khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại, nếu chi phí này là tiền không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước. [12] * Theo Điều 13 Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 quy định về bồi thường đối với đất phi nông nghiệp là đất ở: 1.
Người sử dụng đất ở khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở được bồi thường bằng giao đất ở mới, nhà ở tại khu tái định cư hoặc bồi thường bằng tiền theo đề nghị của người có đất bị thu hồi và phù hợp với thực tế ở địa phương. Diện tích đất bồi thường bằng giao đất ở mới cho người có đất bị thu hồi cao nhất bằng hạn mức giao đất ở tại địa phương; trường hợp đất ở bị thu hồi có diện tích lớn hơn hạn mức giao đất ở thì ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào quỹ đất của địa phương và số nhân khẩu của hộ gia đình bị thu hồi đất, n 8 xem xét, quyết định giao thêm một phần diện tích đất ở cho người bị thu hồi đất, nhưng không vượt quá diện tích của đất bị thu hồi. [9] * Theo Điều 7 Thông tư 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 quy định về bồi thường đất ở: 1. Người bị thu hồi đất ở được bồi thường bằng việc giao đất ở mới hoặc bằng nhà ở tái định cư hoặc bằng tiền theo giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi đất.
Bồi thường đất ở đối với những người đang đồng quyền sử dụng đất, khi Nhà nước thu hồi đất mà giấy tờ về đất không xác định được diện tích đất thuộc quyền sử dụng riêng của từng tổ chức, từng hộ gia đình, cá nhân thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hướng dẫn việc tiếp nhận và phân chia tiền bồi thường về đất. [7] * Theo Điều 26 Quyết định 01/2010/QĐ-UBND ngày 05/01/2010 quy định về điều kiện tái định cư khi nhà nước thu hồi đất: 1. Hộ gia đình cá nhân phải di chuyển chỗ ở do bị thu hồi hết đất ở mà không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân không có nhu cầu tái định cư). Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất mà phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở mà không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở bị thu hồi.
Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở nằm trong hành lang an toàn khi xây dựng công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn phải di chuyển chỗ ở mà không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi. Trường hợp trong hộ gia đình có nhiều thế hệ (từ 02 cặp vợ chồng trở lên) cùng chung sống thì bố trí tái định cư như sau: n 9 - Trường hợp diện tích đất ở bị thu hồi nhỏ hơn hoặc bằng diện tích một ô (suất) đất ở tái định cư thì chỉ được bố trí một ô (suất) đất ở tái định cư. - Trường hợp diện tích đất ở bị thu hồi lớn hơn diện tích một ô (suất) đất ở tái định cư, ngoài việc bố trí một ô (suất) đất ở tái định cư cho chủ hộ, UBND cấp huyện bố trí thêm đất ở tái định cư.