Chương 1 giới thiệu bối cảnh chính sách, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết, tổng quan tài liệu và khuôn khổ phân tích. Chương 3 làm rõ khuôn khổ phân tích, khảo sát, thu thập số liệu. Chương 4 phân tích và thảo luận kết quả từ dữ liệu thu thập được.
Chương 5 kết luận và khuyến nghị chính sách nhằm góp phần cải thiện việc triển khai chính phủ điện tử tại Quảng Ngãi. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -4- CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT Chương 2 giải thích các khái niệm quan trọng, tổng quan cơ sở lý thuyết áp dụng cho nghiên cứu. Trong đó, giải thích chính phủ điện tử và mối liên hệ của nó với quản trị tốt; lý thuyết quản lý dựa trên kết quả để đề xuất phương pháp nghiên cứu trong Chương 3. Chính phủ điện tử Có nhiều định nghĩa khác nhau về e-Gov.
Theo World Bank (2015), e-Gov là chính phủ ứng dụng CNTT-TT để cung cấp một phương thức tương tác giữa chính phủ và công dân, giữa chính phủ và các tổ chức, và trong nội bộ các cơ quan của chính phủ để phối hợp cung cấp dịch vụ công, một cách nhanh chóng, thuận tiện, minh bạch, tiết kiệm chi phí giao dịch (World Bank, 2015). Theo Khung kiến trúc chính phủ điện tử Việt Nam (Bộ TT&TT, 2015), Chính phủ điện tử là “Chính phủ ứng dụng CNTT nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước, tăng cường công khai, minh bạch thông tin, cung cấp dịch vụ công tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp”. Để thống nhất theo cách hiểu phổ quát của các nước trên thế giới, nghiên cứu này áp dụng định nghĩa được công nhận của World Bank. Các giai đoạn phát triển chính phủ điện tử Triển khai e-Gov là một quá trình liên tục qua các giai đoạn.
Một trong những mô hình được biết đến rộng rãi là đề nghị của Layne và Lee (2001), theo đó, e-Gov là một "quá trình tiến hóa", từ sáng kiến e-Gov và trải qua các quá trình thực hiện với mức độ trưởng thành về dịch vụ khác nhau từ (1) lập chỉ mục, (2) giao dịch, (3) tương tác theo chiều dọc, và (4) tương tác theo chiều ngang. Bốn giai đoạn được giải thích với độ phức tạp khác nhau của quá trình tương tác giữa các bên liên quan. Nghiên cứu này sử dụng mô hình đánh giá 4 mức độ phát triển e-Gov của OECD (OECD, 2003, p.74), khá tương đồng với đề nghị của Layne và Lee (2001), để thực hiện đánh giá và phân tích mức độ phát triển e-Gov tại Quảng Ngãi. Theo OECD, sự trưởng thành của e-Gov có thể được chia thành 4 giai đoạn tăng dần ở các mức độ như chỉ ra ở Bảng 2.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1: Các giai đoạn phát triển chính phủ điện tử Trạng thái dịch vụ Đặc trưng Mức độ 1: Thông tin Các cơ quan công quyền xuất bản thông tin trên mạng (website) Mức độ 2: Tương tác Mức độ 1 cộng với người dùng có thể tải về các biểu mẫu, các công chức sử dụng e-mail và tương tác thông qua các ứng dụng Mức độ 3: Giao dịch Mức độ 1-2 cộng với công dân có thể nhập thông tin an toàn và giao dịch trực tuyến với các cơ quan. Mức độ 4: Hoàn thiện Mức độ 1-3 cộng với tích hợp đầy đủ các dịch vụ điện tử trên tất cả các lĩnh vực quản lý và có khả năng chia sẻ dữ liệu Nguồn: OECD (2003, p. Những lợi ích của chính phủ điện tử Chính phủ điện tử không chỉ đơn thuần là việc ứng dụng CNTT-TT vào công tác quản lý điều hành và cung cấp dịch vụ công tốt hơn cho tổ chức và công dân. Việc tận dụng khả năng của CNTT-TT để xây dựng e-Gov còn tạo ra cơ hội cho sự thay đổi, cải cách quy trình tác nghiệp và tái cấu trúc bộ máy chính phủ để trở nên hiệu quả hơn.
Đặc biệt, e-Gov còn giúp khắc phục các nhược điểm về thời gian, không gian, giới hạn về tổ chức và chủ quyền quốc gia khi cung cấp dịch vụ công trực tuyến (Chiavo-Campo & Sundaram, 2003). Sáng kiến e-Gov có thể thúc đẩy quá trình cải cách hành chính. E-Gov vừa mở ra kênh tương tác mới giữa chính quyền và công dân, tăng công khai, minh bạch, nâng cao tinh thần trách nhiệm và vì vậy, giúp cho chính phủ trở nên dễ tiếp cận hơn thông qua những kênh tương tác mới. Xét ở khía cạnh tổng thể của nền kinh tế, khả năng tiếp cận tốt hơn của e-Gov giúp giảm chi phí giao dịch.
Vì vậy e-Gov giúp đạt được hai mục đích: (i) Cải thiện tốc độ phản ứng, hiệu quả và khả năng tiếp cận dịch vụ công và (ii) làm cho chính quyền gần dân hơn. Quản trị tốt và chính phủ điện tử Chính phủ điện tử thường được coi là một công cụ quan trọng để đạt được "quản trị tốt" nếu áp dụng có hiệu quả và có mục đích (Saidi và Yared, 2002; Ciborra và Navarra, 2005). Theo Okot-Uma (2001), “Chính phủ điện tử là việc khai thác những tiềm năng của CNTT-TT cho mục đích cải thiện hiệu quả quản trị” (dẫn từ Ciborra và Navarra, 2005, p. Liên Hiệp Quốc (2002) cũng chỉ ra rằng "sáng kiến Chính phủ điện tử cần phải được đo bằng mức độ mà nó đóng góp để quản trị tốt".
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -6- Theo WGI (2009), "quản trị tốt" có sáu đặc điểm chính, đó là: (1) Tiếng nói và trách nhiệm giải trình, (2) Ổn định chính trị, (3) Hiệu lực chính quyền, (4) Chất lượng pháp quy, (5) Mức độ thực hiện nhà nước pháp quyền, (6) Chống tham nhũng. Khung lý thuyết Quản lý dựa trên kết quả Quản lý dựa trên kết quả (RBM) là phương pháp quản lý chú trọng vào kết quả cuối cùng. Phương pháp này là một chiến lược quản lý nhằm đạt tới những thay đổi quan trọng trong cách mà tổ chức vận hành, qua đó hoàn thiện việc thực hiện để đạt được mục tiêu cuối cùng (Nguyễn Hữu Lam, 2015). RBM được các tổ chức quốc tế sử dụng như một chuẩn mục trong việc xem xét, đánh giá chương trình, dự án (OECD, 2001; ADB, 2006; UNDG, 2011; WB, 2011).
Logic của phương pháp này như mô tả ở Hình 2.1: Logic của Quản lý dựa trên kết quả Những điều này Những gì Chúng ta hi vọng Tại sao chúng được thực hiện sẽ được những gì từ khoản ta thực hiện như thế nào? tạo ra? đầu tư này? điều này? Ngắn hạn Trung hạn Dài hạn Đầu vào Quá trình Đầu ra Kết cục Ảnh hưởng (Inputs) (Process) (Outputs) (Outcomes) (Impacts) Kết quả mong đợi Hiệu suất Kinh tế Hiệu quả Đánh giá việc thực hiện Nguồn: OECD (2001, tr.19) và Nguyễn Hữu Lam (2015, tr.3) Khung lý thuyết quản lý dựa trên kết quả (Hình 2.2) dùng để đánh giá chiến lược quản lý, là quá trình hành động để chuyển hoá các biến đầu vào (nguồn lực) thành kết quả đầu ra (ngắn hạn), kết cục (trung hạn) và ảnh hưởng của nó (dài hạn) đến toàn bộ nền kinh tế. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -7- Trong chiến lược quản lý dựa trên kết quả, quản lý việc thực hiện là một chuỗi những hành động từ (i) hình thành chiến lược, (ii) thực hiện những cam kết và (iii) đo lường việc thực hiện. Trong đó, đo lường việc thực hiện là bước đánh giá quan trọng để lượng hoá những kết quả của chiến lược, có thể thực hiện trước, trong và sau khi thực hiện chiến lược. Trường hợp triển khai e-Gov, như Heeks (2006) chỉ ra ở Hình 2.3, (i) yếu tố đầu vào như điều kiện cơ sở hạ tầng CNTT, nguồn lực triển khai, khuôn khổ luật pháp, mục tiêu, đến (ii) kết quả đạt được như thông tin và dịch vụ công trực tuyến; (iii) kết cục mong muốn như tăng hiệu quả và hiệu suất quản lý nhà nước, cải cách hành chính và (iv) ảnh hưởng của nó, như giảm chi phí giao dịch, tăng trưởng kinh tế và sự tham gia của người dân.2: Áp dung mô hình Quản lý dựa trên kết quả vào e-Gov Môi trường Đầu vào Trung gian - Luật pháp - Lao động - Website - Thể chế - Công nghệ - Dịch vụ công trực - Con người Chiến lược - Hỗ trợ chính trị Quá trình tuyến - Công nghệ - Mục tiêu - Văn phòng điện tử - Khả năng lãnh đạo - Động lực/ Nhu cầu Ngoại sinh Kết quả Ảnh hưởng Kết cục - Lợi ích tài chính - Thông tin Mục tiêu chính sách - Lợi ích phi tài chính - Quyết định (tăng hiệu quả, hiệu (tiết kiệm thời gian; sự - Hoạt động suất quản lý; Cải hài lòng của người dân) - Dịch vụ cách hành chính) - Giao dịch Nguồn: Heeks (2006, tr.13) Tóm lại, bài nghiên cứu này sử dụng lý thuyết về quản lý dựa trên kết quả để đánh giá các yếu tố tác động đến việc triển khai e-Gov tại Quảng Ngãi, từ đó khuyến nghị chính sách để cải thiện việc thực hiện mà mục tiêu hướng đến là đạt được quản trị tốt.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tổng quan đánh giá việc thực hiện chính phủ điện tử Có nhiều nghiên cứu đưa ra các mô hình và khuôn khổ lý thuyết để đánh giá việc áp dụng chính phủ điện tử. Ở góc độ tổ chức, Heeks (2003) cho rằng các yếu tố tác động đến việc triển khai e-Gov bao gồm chiến lược, quản lý, thiết kế, năng lực và công nghệ. Gichoya (2005) cũng đề xuất khuôn khổ đánh giá các yếu tố tác động đến việc thực hiện các dự án e- Gov ở các nước đang phát triển.
Các yếu tố được phân loại (i) các biến đầu vào bảo đảm cho sự thành công là động lực và giám sát, hoặc các yếu tố dẫn đến thất bại, gồm rào cản và hạn chế. Các biến đầu ra là lợi ích của tổ chức và công nghệ. Từ việc phân loại và đánh giá các yếu tố để từ đó khuyến nghị khắc phục và giảm thiểu ảnh hưởng của các yếu tố dẫn đến thất bại. Tổ chức Hợp tác phát triển kinh tế (OECD), từ quan điểm quản lý dựa trên kết quả, mà trọng tâm là đánh giá việc thực hiện, cũng đề xuất khung đánh giá chiến lược triển khai e-Gov trong báo cáo “Trọng tâm chính phủ điện tử” (The e-Government Imperative).
Khuyến nghị này đưa ra các tiêu chí đánh giá có xem xét đến bối cảnh xã hội, kinh tế và chính trị thay đổi, để đạt được mục tiêu chính sách.