CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm và đặc điểm của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Ở một số nước trên thế giới, khái niệm Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp quy định cũng không giống nhau. Chẳng hạn, Luật Công ty Anh quy định NĐDTPL của công ty là: “Một thành viên cá nhân được ủy quyền bởi công ty có quyền thực hiện các quyền hạn tương tự công ty có thể thực hiện”.2] LDN của Úc quy định: “Đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân do doanh nghiệp chỉ định để thực hiện tất cả hoặc bất kỳ quyền hạn nào mà doanh nghiệp có thể thực hiện”. [51, Điều 250D] Pháp luật Nhật Bản tiếp cận NĐDTPL thông qua chức năng quản lý, đó là: “Người quản lý có quyền thực hiện bất kỳ và tất cả các hành vi pháp lý và phi tư pháp nhân danh công ty liên quan đến hoạt động kinh doanh của mình”. Riêng đối với Luật Công ty trách nhiệm hữu hạn không đưa ra khái niệm một cách rõ ràng, mà theo hướng khẳng định: “Công ty sẽ do các Giám đốc làm đại diện.
Nếu một công ty không có Giám đốc, công ty sẽ được đại diện bởi các cổ đông bất cứ khi nào có tuyên bố ý định hoặc các tài liệu được cung cấp trên đó”.2] Như vậy, có thể hiểu một cách đơn giản là quyền và nghĩa vụ của NĐDTPL trong các Công ty trách nhiệm hữu hạn ở Đức được thể hiện thông qua quyền và nghĩa vụ của Giám đốc và các cổ đông (nếu công ty không có giám đốc). Khảo sát quy định về NĐDTPL của một số nước trên thế giới, chúng ta có thể khẳng định thuật ngữ “NĐDTPL của doanh nghiệp” mang những nội dung khác nhau, tùy thuộc vào pháp luật của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, tựu chung lại thì pháp luật của các nước vẫn có điểm giao thoa nhau về khái niệm NĐDTPL, đó là người được doanh nghiệp chỉ định để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn nhân danh doanh nghiệp. 7 Ở Việt Nam, theo quy định tại Bộ luật Dân sự, đại diện là việc một người nhân danh và vì lợi ích của người khác xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện.1 Quan hệ đại diện được xác lập theo hai hình thức cơ bản: Đại diện có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền2.
Đại diện theo pháp luật bao gồm các trường hợp sau: (i) Người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ; (ii) Người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật;(iii) Người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án”.3 Đại diện theo ủy quyền là hình thức đại diện mà quyền đại diện được xác lập trên cơ sở thỏa thuận giữa người được đại diện và người đại diện. Bên cạnh đó, còn có đại diện theo ủy quyền lại: Người đại diện theo ủy quyền có thể ủy quyền lại cho một người thứ ba đại diện cho doanh nghiệp, nếu như trong nội dung ủy quyền ban đầu có nội dung cho phép ủy quyền lại hoặc do sự kiện bất khả kháng nếu không áp dụng ủy quyền lại thì mục đích xác lập, thực hiện giao dịch dân sự vì lợi ích của người ủy quyền không thể thực hiện được 4. Khi tiếp nhận hồ sơ ủy quyền lại, cần lưu ý hình thức ủy quyền lại phải phù hợp với hình thức ủy quyền ban đầu và nội dung không được vượt quá phạm vi ủy quyền ban đầu. Ví dụ: Chủ tịch HĐQT là đại diện đương nhiên, ủy quyền cho Tổng Giám đốc ký hợp đồng và cho phép Tổng Giám đốc được ủy quyền lại cho các Phó tổng Giám đốc hay Giám đốc các chi nhánh ký hợp đồng.
Trường hợp này thường xuyên xuất hiện ở các ngân hàng cũng như các doanh nghiệp có chi nhánh lớn rộng khắp trên cả nước. NĐDTPL sẽ thực hiện các quyền và nghĩa vụ, theo quy định tại điều lệ doanh nghiệp và theo LDN 2014. Người đại diện theo ủy quyền và người được ủy quyền lại sẽ có phạm vi quyền hạn theo nội dung được ủy quyền. 1 Khoản 1, Điều 134 Bộ luật Dân sự 2015, 2 Điều 85, Bộ luật Dân sự 2015 3 Khoản 1 Điều 137 Bộ luật Dân sự 2015 4 Khoản 1, Điều 564 Bộ luật Dân sự 2015 8 Ngoài ba trường hợp nêu trên thì việc ủy quyền đại diện sẽ không tới người thứ tư vì Bộ luật Dân sự chỉ quy định trường hợp ủy quyền lại cho người thứ ba.
Như vậy, “đại diện theo pháp luật” là sự thiết lập người đại diện của những thành viên công ty, cổ đông hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định. Trước đây LDN 2005 không đưa ra khái niệm NĐDTPL của doanh nghiệp, mà quy định về NĐDTPL của doanh nghiệp chỉ nằm rải rác ở các điều luật quy định về cơ cấu tổ chức, quản lý của các loại hình doanh nghiệp. 5 Tuy nhiên, đến LDN 2014 đã thể hiện bước tiến khi có một điều khoản dành riêng để quy định về NĐDTPL. Theo đó, khoản 1 Điều 13 LDN 2014 quy định: “NĐDTPL của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật”.
Với quy định này, LDN 2014 đã ghi nhận chức năng đại diện theo pháp luật trong tố tụng của NĐDTPL được quy định từ Điều 85 đến Điều 90 của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015. Tuy nhiên, khái niệm trên chỉ mới đề cập đến việc “thực hiện” giao dịch nhân danh doanh nghiệp mà chưa đề cập đến chức năng “xác lập” giao dịch nhân danh doanh nghiệp – vốn là một trong các quyền hạn then chốt của chế định NĐDTPL. Mặc dù, khoản 1 Điều 13 LDN 2014 có thêm quy định mở, đó là NĐDTPL được thực hiện “các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật”, tức là được thực hiện quyền xác lập giao dịch, song việc không quy định cụ thể quyền hạn này trong văn bản luật chuyên ngành cũng là một hạn chế 6 [1, Tr18]. Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015 thì người đại diện là người nhân danh và vì lợi ích của người được 5 Chẳng hạn, Công ty trách nhiệm hữu hạn (khoản 5 Điều 67, khoản 1 Điều 74); CTCP (khoản 1 Điều 116); Công ty hợp danh (khoản 1 Điều 137); Doanh nghiệp tư nhân (khoản 4 Điều 143).
6 Bùi Đức Giang (2015), “Hành lang pháp lý mới về NĐDTPL của Luật doanh nghiệp năm 2014”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 6/2015, tr. 9 đại diện xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Chính vì vậy, vai trò “xác lập” giao dịch dân sự là một trong những vai trò không thể thiếu trong việc xác định ai là NĐDTPL của doanh nghiệp.2 Đặc điểm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Một là, NĐDTPL của doanh nghiệp là người được ghi nhận trên Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp đó. Theo quy định tại Điều 29 LDN 2014, trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp gồm các nội dung sau: Tên doanh nghiệp và mã số doanh nghiệp; Địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp, Họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của NĐDTPL của doanh nghiệp đối với CTTNHH và CTCP….
Như vậy, trong các nội dung đăng ký kinh doanh phải có thông tin NĐDTPL của doanh nghiệp. Hay nói cách khác, cơ sở để xác định NĐDTPL của một doanh nghiệp chính là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra, thông tin người đại diện theo quy định pháp luật còn được ghi nhận trên các tài liệu khác như: Quyết định của HĐQT, Quyết định của ĐHĐCĐ, Điều lệ của doanh nghiệp… Tuy nhiên các văn bản này là văn bản nội bộ của doanh nghiệp nên khả năng chứng minh đối với đối tác không cao như Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Bên cạnh đó, hiện nay Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh không nhất thiết phải nộp lại cho cơ quan đăng ký kinh doanh khi đăng ký nội dung thay đổi.
Do đó, để kiểm tra chính xác thông tin NĐDTPL, cần phải đối chiếu thông tin người đại diện trên Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và thông tin tra cứu trên trang thông tin điện tử Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp (https://dangkykinhdoanh.vn/vn/Pages/Trangchu.aspx) và cả điều lệ doanh nghiệp. Hai là, NĐDTPL của doanh nghiệp là cá nhân có đủ năng luật pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự 10 Doanh nghiệp là một tổ chức thành lập để sản xuất, đầu tư, kinh doanh. Bản thân doanh nghiệp vẫn là khái niệm trừu tượng bao gồm nhiều cá nhân, bộ phận, sản phẩm, dịch vụ, vì vậy không phải ai, bộ phận nào cũng có thể tự mình thể hiện ý chí của doanh nghiệp ra bên ngoài. Quyết định của doanh nghiệp phải được thể hiện thông qua một hoặc nhiều cá nhân nhất định được doanh nghiệp bầu chọn, chỉ định theo các thủ tục hành chính.
Do đó, NĐDTPL của tổ chức nói chung, doanh nghiệp nói riêng phải là cá nhân. Đây là một đặc điểm phân biệt với đại diện theo ủy quyền vì người đại diện theo ủy quyền có thể cá nhân hoặc tổ chức, chẳng hạn, doanh nghiệp có thể ủy quyền cho một doanh nghiệp khác nhân danh và vì lợi ích của mình để xác lập, thực hiện giao dịch theo cơ chế đại diện cho thương nhân theo Luật Thương mại. Để có thể thể hiện ý chí của doanh nghiệp, NĐDTPL phải có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Theo quy định tại BLDS 2015, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự và có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết.
Khi cá nhân nhân danh doanh nghiệp để thực hiện giao dịch trong phạm vi cho phép thì các quyền và nghĩa vụ từ giao dịch phát sinh cho doanh nghiệp chứ không phát sinh cho cá nhân đó. Ba là, NĐDTPL của doanh nghiệp nhân danh doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ chung của doanh nghiệp Bản chất của quan hệ đại diện nói chung là người đại diện nhân danh và vì lợi ích của người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch.