CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CÔNG TÁC LẬP DỰ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TÁC LẬP DỰ TOÁN 1.1 Khái niệm về lập dự toán Trong các chức năng của quản trị, dự toán là chức năng quan trọng không thể thiếu đối với mọi doanh nghiệp. Dự toán là xây dựng mục tiêu của doanh nghiệp và vạch ra các bước thực hiện để đạt được mục tiêu đã đặt ra. Dự toán là việc hiện thực hóa kế hoạch trên phương diện tài chính nhằm liên kết các mục tiêu cụ thể, chỉ rõ tài nguyên phải sử dụng, đồng thời tính kết quả thực hiện trên cơ sở các kỹ thuật dự báo.TS Trương Bá Thanh (2008), dự toán là việc ước tính toàn bộ thu nhập, chi phí của doanh nghiệp trong một thời kỳ để đạt được một mục tiêu nhất định. Theo nghĩa rộng dự toán được hiểu là dự kiến các công việc, nguồn lực cần thiết để thực hiện các mục tiêu trong một tổ chức.
Quá trình dự toán cũng phải đặt ra: ai làm dự toán và ai sẽ thực hiện dự toán theo phân cấp quản lý của Công ty. Công việc này sẽ được thực hiện gắn liền với trách nhiệm của mỗi bộ phận, mỗi cá nhân với mục tiêu của Công ty. Như vậy, dự toán của Công ty không chỉ gắn với việc tổ chức thực hiện mà còn là cơ sở để thực hiện công tác kiểm tra, kiểm soát sau này. Theo tác giả Huỳnh Lợi (2009), dự toán là những tính toán, dự kiến, phối hợp một cách chi tiết, tỉ mỉ và toàn diện nguồn lực, cách thức huy động và sử dụng nguồn lực để thực hiện một khối lượng công việc nhất định trong một khoảng thời gian nhất định được biểu hiện bằng một hệ thống các chỉ tiêu về số lượng và giá trị.
Nó bao gồm các thành phần chủ yếu sau: - Tính toán dự kiến hay kế hoạch: Thực chất đây là một ước tính hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai, chỉ rõ những 9 khối lượng công việc cần phải thực hiện. Sự ước tính này chịu sự tác động của các nhân tố sau: • Nhóm các nhân tố tác động đến các hoạt động trong tương lai của doanh nghiệp mang tính chất khách quan, tác động từ bên ngoài và vượt khỏi phạm vi kiểm soát của Công ty. • Nhóm các nhân tố tác động đến các hoạt động trong tương lai của doanh nghiệp mang tính chất chủ quan thuộc phạm vi kiểm soát và tùy thuộc vào doanh nghiệp như trình độ sử dụng lao động, trình độ sử dụng yếu tố vật chất của quá trình sản xuất, trình độ nhận thức và vận dụng các nhân tố khách quan, … Dự toán là một sự tính toán, dự kiến hoạt động của doanh nghiệp trong sự tác động của hai nhóm nhân tố trên. Dự toán không chỉ để xuất các công việc cần phải thực hiện mà còn chỉ rõ những ảnh hưởng của các nhân tố khách quan đến thực hiện công việc đó.
- Sự phối hợp chi tiết và toàn diện: Dự toán phải được phối hợp giữa các chi tiết một cách toàn diện, nghĩa là mọi hoạt động giao dịch của doanh nghiệp cần phải được xem xét. Dự toán được lập cho từng doanh nghiệp, phòng ban khác nhau trong doanh nghiệp, căn cứ vào thực trạng của các bộ phận và phải lập một cách hài hòa tương đối với nhau. Tổng hợp dự toán từng bộ phận sẽ hình thành dự toán tổng thể cho toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp. - Các nguồn lực: Dự toán phải chỉ rõ nguồn lực và cách thức huy động các nguồn lực cho các hoạt động.
Nghĩa là phải lập kế hoạch về các nguồn lực, cách thức sử dụng các nguồn lực như nguồn tài nguyên, nguồn vốn, nguồn nhân lực, điều kiện môi trường để phục vụ cho các hoạt động của doanh nghiệp. Trong hoạt động kinh doanh trước đây các nhà kinh tế thường chỉ tập trung khai thác, sử dụng các nguồn vật chất, lao động. Ngày nay, khi 10 đề cập đến nguồn lực cần phải chú ý đến nguồn lực là điều kiện môi trường. Hoạt động của doanh nghiệp được phản ánh qua các chỉ tiêu doanh thu, chi phí, lợi nhuận… Vì vậy phải lường được những nguồn lực từ vật chất, nhân lực và kể cả chi phí điều kiện môi trường để đảm bảo cho các hoạt động tạo ra doanh thu tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, lao vụ, dịch vụ, đảm bảo cho chi phí phát sinh tương xứng trong quá trình thực hiện doanh thu đó, đảm bảo cho mức lợi nhuận cần phải đạt được trong từng thời kỳ.
- Thời hạn xác định trong tương lai: Dự toán thường gắn liền với một thời hạn cụ thể trong tương lai. Nếu không có yếu tố thời gian, dự toán trở thành vô nghĩa. Mỗi một thời điểm, thời kỳ khác nhau, sự tác động của các nhân tố chủ quan, khách quan, nguồn lực sử dụng đến hoạt động của doanh nghiệp sẽ khác nhau, nên những phương án, những giải pháp, những dự tính của doanh nghiệp cũng sẽ khác nhau. - Hệ thống các chỉ tiêu về số lượng và giá trị: Hệ thống các chỉ tiêu cho thấy lập dự toán phải theo một trình tự và đảm bảo tính logic.
Các hoạt động và giao dịch khác nhau được thể hiện bằng các doanh nghiệp đo lường khác nhau, cụ thể như số lượng nguyên vật liệu, số lượng sản phẩm sản xuất, số lượng lao động… Bên cạnh sử dụng chỉ tiêu về số lượng để đo lường các số tương đối cần gộp chúng vào một kế hoạch tổng thể, nên phải sử dụng thước đo tiền tệ làm mẫu chung quy đổi các đối tượng. Như vậy dự toán sẽ xác định một cách cụ thể các chỉ tiêu về số lượng giá trị.2 Chức năng và vai trò của công tác lập dự toán a. Chức năng của công tác lập dự toán - Chức năng hoạch định: Chức năng hoạch định của dự toán thể hiện ở việc hoạch định các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể như hoạch định về sản lượng tiêu thụ, sản xuất, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí bán hàng 11 v.v… Dự toán được xem là công cụ để lượng hóa các kế hoạch của nhà quản trị. - Chức năng điều phối: Chức năng này thể hiện thông qua việc huy động và phân phối các nguồn lực để thực hiện các mục tiêu của nhà quản trị.
Nhà quản trị kết hợp giữa hoạch định các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể và việc đánh giá năng lực sản xuất kinh doanh thực tế của từng bộ phận để điều phối các nguồn lực của doanh nghiệp tới các bộ phận sao cho việc sử dụng đạt hiệu quả cao nhất. - Chức năng thông tin: Chức năng này thể hiện thông qua một hệ thống các bảng dự toán cụ thể để truyền đạt các mục tiêu, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp đến các thành viên ở các phòng ban. Các con số trong báo cáo dự toán được các nhà quản trị truyền thông điệp hoạt động cho các bộ phận thực hiện cho mọi hoạt động cụ thể. - Chức năng kiểm soát: Chức năng này thể hiện thông qua việc xem dự toán là cơ sở, là chuẩn để so sánh với kết quả thực tế đạt được tại doanh nghiệp.
Dự toán đóng vai trò kiểm tra, kiểm soát, dự toán quan sát việc thực hiện các kế hoạch chiến lược, đánh giá mức độ thành công và có các phương pháp sửa chữa khắc phục kịp thời khi cần thiết. - Chức năng đo lường, đánh giá: Chức năng này thể hiện thông qua việc dự toán cung cấp một thước đo, một khuôn khổ chuẩn để đánh giá hiệu quả của nhà quản lý trong việc đạt được các mục tiêu đề ra. Nhưng do sự tác động từ bên ngoài nên không phải lúc nào việc thực hiện cũng đạt được những tiêu chuẩn mà dự toán đưa ra. Do đó để giảm bớt sự khác biệt giữa tiêu chuẩn và thực hiện người ta thường dựa vào tình hình thực tế để dự toán, tính thêm phần trăm mức độ rủi ro khi tính toán các tiêu chuẩn cho việc dự toán.
Trong các chức năng cơ bản trên của dự toán thì chức năng hoạch định và kiểm soát được xem là quan trọng nhất của quản lý. Vai trò của công tác lập dự toán Vai trò của việc lập dự toán là phục vụ cho việc hoạch định và kiểm soát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Có thể thấy vai trò này qua: - Cụ thể hóa các mục tiêu kinh doanh để làm căn cứ đánh giá mức độ thực hiện sau này. Vai trò này thể hiện ở việc hoạch định cụ thể các mục tiêu và nhiệm vụ của doanh nghiệp như: hoạch định về sản lượng tiêu thụ, số lượng sản xuất, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp.
- Cung cấp thông tin một cách có hệ thống toàn bộ kế hoạch của doanh nghiệp, tính toán được các nguồn lực và lường trước những khó khăn để có phương án hoạt động thích hợp. Vai trò này thể hiện thông qua việc xem dự toán là văn bản cụ thể, súc tích để truyền đạt các mục tiêu, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp đến nhà quản lý các bộ phận, phòng ban. Thông qua các chỉ tiêu cụ thể trong dự toán nhà quản trị đã truyền đạt thông điệp hoạt động cho các bộ phận. Các bộ phận xem chỉ tiêu này là kim chỉ nam cho các hoạt động của bộ phận mình.
Tuy nhiên không phải lúc nào việc thực hiện cũng đạt được những tiêu chuẩn mà dự toán đưa ra. Cho nên để giảm bớt sự khác biệt giữa dự toán và thực hiện người ta thường dựa vào tình hình thực tế để dự đoán và tính thêm phần trăm mức độ rủi ro khi tính toán các tiêu chuẩn cho việc dự toán. - Phát hiện các khâu sản xuất kinh doanh bị trì trệ tiềm ẩn để có biện pháp chấn chỉnh kịp thời, đảm bảo sự phối hợp hoạt động nhịp nhàng giữa các bộ phận phù hợp với mục tiêu chung của doanh nghiệp.Thể hiện sự cam kết của một bộ phận… đối với mục tiêu đặt ra, tương ứng với ngân sách được giao. Các bộ phận xem các chỉ tiêu trong dự toán là kim chỉ nam cho hoạt động của các bộ phận.
- Kiểm soát hoạt động theo mục tiêu, thể hiện thông qua việc so sánh dự 13 toán với kết quả thực tế đạt được tại doanh nghiệp, với các kế hoạch chiến lược, đánh giá mức độ thành công của dự toán.