Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC DÂN VẬN VÀ CÔNG TÁC DÂN VẬN Ở HUYỆN PHÙ CÁT TRƯỚC NĂM 2000 1. Lý luận chung về công tác dân vận 1. Khái niệm Dân hay còn gọi là “Nhân dân” là những người sống trong một khu vực địa lý hoặc hành chính, trong một nước hay ngoài nước. Là đông đảo những người dân, thuộc mọi tầng lớp, mọi giai cấp (trong đó công nhân, nông dân, trí thức là các tầng lớp, giai cấp cơ bản) có quan hệ với bộ máy cầm quyền trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Khái niệm “dân” trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sự tiếp thu và phát triển những quam điểm tiến bộ về dân trong lịch sử tư tưởng dân tộc Việt Nam, lịch sử tư tưởng phương Đông, phương Tây và khái niệm quần chúng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Hồ Chí Minh đã rút ra một hệ thống các quan niệm về dân: Dân là những người chung một nước, chung một cộng đồng, chung một lãnh thổ thống nhất, là đồng bào, là “con Rồng cháu Tiên”, là “con Hồng cháu Lạc”, là anh em ruột thịt, là các tầng lớp, các đoàn thể, là những người cùng giai cấp, là những người yêu nước, là lực lượng cách mạng,. Hồ Chí Minh mở rộng nội hàm khái niệm “dân” đến tất cả những ai thừa nhận mình là “con dân đất Việt”. Người ta thường nói đến “con Rồng cháu Tiên”, “đồng bào”, “gốc tích Việt Nam”, “người chung một nước”, không phân biệt dân tộc thiểu số với dân tộc đa số, người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, không phân biệt “già, trẻ, trai, gái, giàu, nghèo, quý, tiện”.
Dân là toàn bộ đồng bào trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, kể cả người Việt Nam ở nước ngoài trừ bọn phản bội, làm tay sai cho đế quốc thực dân đi ngược lại quyền lợi, nguyện vọng của toàn dân, dân tộc. Dân vận là từ viết gọn của công tác vận động nhân dân. Dân vận không e 10 chỉ được dùng để chỉ con người và tổ chức mà còn là một hoạt động, bao gồm cả tuyên truyền, giảng giải, thuyết phục, vừa là phong trào xã hội, từ thi đua yêu nước, vận động đoàn kết, vừa là công tác thực tế hàng ngày. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra định nghĩa về công tác dân vận hết sức khái quát, giản dị và dễ hiểu.
Theo Người: “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân, không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho” [45, tr. Nói tóm lại, mục tiêu cao nhất của dân vận theo tư tưởng Hồ Chí Minh chính là vì dân. Do đó, mọi hành động của chúng ta phải vì dân và mang lại hiệu quả thiết thực cho dân. Sau cách mạng tháng Tám 1945, nước nhà giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài báo “Dân vận” đăng trên báo Sự thật số ra ngày 15/10/1949.
Nội dung bài báo được coi là “Cương lĩnh công tác dân vận” của Đảng. Chính vì vậy, vào tháng 10/1999, nhân kỷ niệm 50 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài báo “Dân vận” và trên cơ sở sự ra đời của hệ thống Ban chuyên môn về giới vận động của Đảng, theo đề nghị của Ban vận Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã đồng ý lấy ngày 15/10/1930 là ngày truyền thống công tác Dân vận của Đảng và quyết định lấy ngày 15/10 hàng năm là ngày Dân vận của cả nước. Công tác dân vận của Đảng Ngay từ khi Đảng ra đời, đã xác định vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng, vì vậy trong sách lược của Đảng đã chú ý đến xây dựng thái độ chính trị của mỗi giai cấp nhằm tập hợp lực lượng, mỗi giai cấp đã có biện pháp, hình thức khác nhau. Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Đảng đã đề ra chiến lược tập hợp rộng rãi mọi lực lượng quần chúng, góp thành lực lượng toàn dân để thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng.
e 11 90 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn thực hiện tốt tinh thần của Cương lĩnh và bổ sung vào kho tàng lý luận của Đảng, nhằm chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân. Sinh thời, Hồ Chí Minh đã dành không ít tâm huyết cho công tác dân vận, bồi đắp mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân. Trong diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 3 của Đảng (9/1960) Hồ Chí Minh nói: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân, anh hùng nào. Thành công của Đảng là ở nơi Đảng đã tổ chức và phát huy lực lượng cách mạng vô tận của nhân dân, đã lãnh đạo nhân dân phấn đấu dưới lá cờ tất thắng của chủ nghĩa Mác- Lê nin”.
Đảng muốn thân dân thì phải hiểu dân, nghe được dân nói, nói cho dân nghe, làm được cho dân tin, là nhận biết những nhu cầu của họ, biết được họ đang suy nghĩ gì, trăn trở cái gì, mong muốn cái gì và mong đợi ở người lãnh đạo, người quản lý cái gì. Phải biết và đáp ứng kịp thời những nhu cầu và lợi ích thiết thực của dân, nhìn thấy thực tại và vạch ra viễn cảnh tương lai đúng đắn cho sự phát triển. Phải biết đồng cảm và gần gũi với cuộc sống của dân, nếu chỉ đóng cửa cơ quan viết báo cáo, phương hướng thì không biết dân muốn gì,… Dận vận không thể chỉ dùng báo chương, sách vở, mít tinh, khẩu hiệu, truyền đơn, chỉ thị mà đủ. Trước nhất là phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ ràng: việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho k được.
Điểm thứ hai là bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành. Khi thi hành xong phải cùng dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng [45, tr. Tư tưởng dân vận của Người trải qua năm tháng vẫn giữ nguyên giá trị e 12 và được nhiều nhà nghiên cứu đi sâu khai thác. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận trong văn kiện Đại hội IX của Đảng chính thức khẳng định quy trình công tác dân vận gồm 4 bước: giải thích cho dân hiểu rõ quyền lợi và nhiệm vụ của họ (dân biết); bàn bạc với dân, hỏi ý kiến, kinh nghiệm của dân (dân bàn); động viên và tổ chức toàn dân thi hành (dân làm); cùng với dân kiểm thảo, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng (dân kiểm tra).
Công tác dân vận của Đảng được thực hiện trong điều kiện “Nước ta là nước dân chủ” và do vậy người dân được biết, bàn, làm, kiểm tra các công việc của Đảng và Chính phủ, trong đó có “Công tác dân vận”. Công tác dân vận chính là toàn bộ hoạt động của Đảng Cộng sản nhằm vận động, thuyết phục, tập hợp, hướng dẫn mọi tầng lớp nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo. Công tác dân vận không chỉ là trực tiếp vận động mà còn có cả những hoạt động không trực tiếp vận động. Từ những phân tích ở trên, có thể quan niệm: Công tác dân vận của Đảng là toàn bộ những hoạt động của Đảng nhằm tuyên truyền, vận động, thu hút, tập hợp mọi tầng lớp nhân dân để thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và để chăm lo, bảo vệ lợi ích của nhân dân.
Vai trò của nhân dân và tầm quan trọng của công tác dân vận Chủ nghĩa Mác –Lênin đã khẳng định vị trí, vai trò của nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử, là người sáng tạo ra mọi của cải vật chất và những giá trị tinh thần, nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội, là lực lượng cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội. Cách mạng muốn thắng lợi thì nhân dân cần có Đảng dẫn đường. Đảng ra đời vì yêu cầu của sự nghiệp cách mạng của quần chúng. Mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân là mối quan hệ máu thịt không thể tách rời.
Nếu xa rời quần chúng Đảng tự đánh mất cơ sở e 13 tồn tại của mình. Ở Việt Nam, từ xa xưa trong lịch sử dân tộc, ông cha ta đã sớm phát hiện và đề cao sức mạnh, vai trò to lớn của nhân dân, chú trọng bồi dưỡng sức dân, phát huy sức mạnh của toàn dân. Lịch sử nước ta đã ghi nhận những chiến công hiển hách thời nhà Trần là nhờ đoàn kết trên dưới đồng lòng, cả nước chung sức. Trần Quốc Toản từng nói quân được hay thua là do ở người làm tướng.
Song có phải bởi người làm tướng cả đâu, chỉ là do cách dùng người của tướng mà thôi. Vị tướng Trần Hưng Đạo trước khi mất khuyên vua nhà Trần khi đất nước thanh bình phải biết khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc - đó là kế sách để giữ nước. Nguyễn Trãi, quan đại thần của Lê Lợi, người thảo bản “Bình Ngô đại cáo” nổi tiếng thì cho rằng: “Phúc chu thủy tín, dân do thủy” (chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân) tức là sức của dân như nước, nước chở thuyền, nước lật thuyền, nên chú ý đến dân đến nhân, nghĩa, trí, dũng. Đầu thế kỷ XX, trong sự nghiệp chống Pháp, Phan Bội Châu cũng quan niệm: “Người dân ta là của dân ta.
Dân là của nước, nước là của dân”, trong tác phẩm “Hải ngoại huyết thư” ông kêu gọi sự đoàn kết của 10 hạng người trong xã hội. Phan Châu Trinh chí sĩ yêu nước đầu thế kỷ XX đại diện cho xu hướng cải cách cũng đề cao vai trò của nhân dân: “Dân ta là thánh là thần. Bền gan, chắc dạ quỷ thần cũng kiêng”, đề cao vấn đề “dân quyền”, đi diễn thuyết, tuyên truyền, vận động nhân dân, thực hiện mục tiêu khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Như vậy, trong lịch sử phong kiến Việt Nam tuy chưa xuất hiện thuật ngữ “dân vận” song chính những hình thức trên là nghệ thuật “dân vận” rất giỏi của cha ông.
Hấp thụ truyền thống “dân vận” của dân tộc từ sớm.