mở đầu cho trào lưu văn học tả chân xã hội. Thời kỳ này độc giả muốn có những trang viết về cảnh lầm than của xã hội để thức tỉnh mọi người. Trong tình trạng ấy, tập truyện ngắn Kép Tư Bền ra đời có thể xem là một cái mốc đánh dấu trong sự nghiệp văn chương của nhà văn. Ông viết:“việc cuốn Kép Tư Bền được hoan nghênh làm tôi rằng tôi có thể viết nổi tiểu thuyết và tôi có thể theo đuổi nghề văn” [23/188].
Tập truyện với nghệ thuật độc đáo, mới lạ, có truyện không có cốt truyện (Cô Kếu gái tân thời), có truyện viết không theo hình thức kể chuyện (Thế là mợ nó đi Tây) đã thu hút được đông đảo bạn đọc trong cả nước. Những tiểu thuyết tình cảm lãng mạn của Khái Hưng, Nhất Linh… bị lu mờ, thay vào đó là những tác phẩm hiện thực của Nguyễn Công Hoan. Năm đó, Kép Tư Bền được đánh giá là tập truyện ngắn hay nhất, được mười tám tờ báo ở Trung, Nam, Bắc viết bài khen ngợi và trở thành đề tài cho một cuộc tranh luận về nghệ thuật. Phái nghệ thuật vị dân sinh của Hải Triều đã viết nhiều bài đanh thép để công kích nghệ thuật vị nghệ thuật của Hoài Thanh.
Khi cuộc tranh luận đang trong độ gay cấn nhất thi Hải triều đọc được Kép Tư Bền. Kép Tư Bền trở thành cứu cánh đưa phái nghệ thuật vị dân sinh đi đến thắng lợi. Trong một bài bút chiến của Hải Triều có viết “Cái chủ trương nghệ thuật vị dân sinh của tôi ngày nay đã biểu hiện bằng những bức tranh rất linh hoạt dưới ngòi bút tài tình của văn sĩ Nguyễn công Hoan” [48]. Để khẳng định chủ trương của mình, Hải Triều còn tổ chức buổi gặp mặt tác giả với bạn đọc và trưng cầu ý kiến độc giả tại nhà sách Hương Giang (Huế).
Kết quả của cuộc trưng cầu là tác Phẩm Kép Tư Bền được xếp hàng đầu, tác giả của nó được bạn đọc hoan nghênh nhất. Ông trở thành ngọn cờ đầu của văn học hiện thực phê phán Việt Nam. 8 Thời kỳ mặt trận Dân chủ (1936- 1939), thực dân Pháp nới lỏng chế độ kiểm duyệt sách báo, ngòi bút của Nguyễn Công Hoan được tung hoành hơn. Nhờ ảnh hưởng của Đảng, của sách báo Mác xít, của phong trào quần chúng khắp nơi, những tác phẩm của ông đạt chất lượng cao hơn trước.
Chúng như những chiếc gai nhọn đối với nhà cầm quyền. Thời kỳ ông viết sung sức chưa từng thấy, với hơn 80 truyện ngắn, trong đó có khoảng 30 truyện đả kích bọn quan lại và chế độ thực dân. Ông đưa vào tác phẩm của mình từ cuộc sống Âu hóa lố lăng “Cô Kếu gái tân thời”, đến tệ quan lại tham nhũng “Công dụng của cái miệng”; “Người thứ ba”. Từ cuộc sống vương giả của những kẻ ăn trên ngồi chốc như “Phành phạch”;“Quyền chủ” đến cuộc sống cùng cực của kiếp đi ở “Thằng Quýt”; “Thanh!Dạ”.
Từ đề tài xã hội này, ông đã nhanh chóng chuyển sang đề tài chính trị, không những ông tố cáo tệ tham nhũng, thói dâm ô đểu cáng “Thằng ăn cướp”; “Đồng hào có ma”; “Nạn ô tô”; “Nạn râu”…mà còn vạch trần những thủ đoạn chính trị lừa bịp và cơ hội của bọn quan lại triều đình như “Biểu tình”; “Chiến tuyến bình”, những thủ đoạn mua bán, tranh giành lá phiếu của bọn nghị viên (Trần Thiện – Lê Văn Hà). Đặc biệt ông đã chĩa mũi nhọn đả kích vào một số chính sách của bọn thực dân Pháp: Từ sự xâm lấn từng bước khá nguy hiểm của chính quyền thực dân “Người vợ lẽ bạn tôi” đến những chủ trương cực kỳ vô lý và ngu xuẩn đối với trẻ con không nơi nương tựa như “Giá ai cho cháu một hào”. Từ những thủ đoạn tuyên truyền ầm ĩ cho tên vua bù nhìn bán nước “Đào kép mới” đến những cuộc vận động cho phong trào thể thao một cách bịp bợm, giả dối của tên thống sứ Chatet “Tinh thần thể dục”. Thời kỳ này ông viết nhiều tiểu thuyết, truyện dài: “Ông chủ”; “Bà chủ”(1935), “Cô giáo Minh” (1936), “Cô làm công” (1936), “Bước đường cùng” (1938) và “Cái thủ lợn” (1939).
“Bước đường cùng” được được sáng tác trong vòng 16 ngày trước khi tác giả ra “an trí” ở đảo Trà Cổ. Tác phẩm viết về tình cảnh người nông dân vì thất học, u mê, tăm tối nên bị địa chủ dùng thủ đoạn để cướp nhà, cướp ruộng và bị đẩy vào cuộc sống bần cùng. Bọn địa chủ thì gian ác, hách dịch, đứa nào cũng dựa vào thế quan, thế Tây để bóc lột nhân dân thậm tệ, nhưng cuối cùng những người nông dân cũng giác ngộ, họ biết đoàn kết chống lại địa chủ. Tác phẩm có tính tư tưởng cao, nội dung hiện thực sâu sắc nên vừa ra đời một thời gian 9 ngắn thì bị chính quyền thực dân cấm.
Rút cuộc 5000 cuốn “Bước đường cùng” vẫn được tiêu thụ hết. Đây cũng là cuốn tiểu thuyết trong đó nhà văn đã xây dựng được những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình theo yêu cầu của chủ nghĩa hiện thực. Đề tài của tiểu thuyết ảnh hưởng nhiều của sách báo đảng Cộng Sản bấy giờ và đã gây được tiếng vang lớn trong kỳ mặt trận Dân chủ. Sang những năm dại chiến thế giới II, Nguyễn Công Hoan mất phương hướng và bế tắc.
Từ con đường chủ nghĩa hiện thực ông đi chệch hướng sang con đường chủ nghĩa lãng mạn bảo thủ. Vốn chịu ít nhiều tư tưởng phong kiến, ông đã viết một số tiểu thuyết có khuynh hướng phục cổ, tiêu biểu là “Thanh đạm” (1942). Tác phẩm đề cao Nho giáo, phong tục và sinh hoạt phong kiến cổ xưa. “Thanh đạm” bị lên án gay gắt làm cho Nguyễn Công Hoan trở nên bi quan, chán nản.
Năm 1945, cách mạng tháng 8 thành công, nhà văn vui mừng, hồ hởi mặc áo lính, làm công tác văn hóa trong quân đội và dần có cơ hội trở lại viết văn. Ông sáng tác nhiều truyện dài, nhiều tiểu thuyết xã hội như: “Tranh tối tranh sáng” (1950); “Hỗn canh hỗn cư” (1961); “Đống rác cũ” (1963)…ngoài ra ông còn viết nghiên cứu về Tản Đà, Nguyễn Khuyến, Tú Xương…viết bài cho phát thanh, tham gia vào việc biên soạn từ điển, ngữ pháp tiếng Việt của viện Ngôn ngữ. Đặc biệt, ông viết được nhiều tập hồi ký chân thực và có giá trị: “Đời viết văn của tôi”; “Nhớ gì ghi nấy”… “Đời viết văn của tôi” viết năm 1971, cuốn hồi ký này ghi lại các sự kiện 60 năm văn học nước nhà, từ những bước đầu của ngành báo chí xuất bản. Cuốn sách giới thiệu nhiểu nhà văn, nhà nghiên cứu, trong hoàn cảnh nước ta trước đây các ngành bảo tồn, bảo tàng, xã hội học, dân tộc học chưa phát triển thì đây là tài liệu rất tốt cho giúp cho các thế hệ sau dựng lại bức tranh chân thật về một thời kỳ lịch sử đã qua đồng thời cũng cho họ những chi tiết chính xác về cái xã hội tù túng, quằn quại dưới ách thực dân phong kiến.
Mặt khác, cuốn hồi ký này để lại cho các nhà văn cũng như các nhà nghiên cứu thế hệ sau nhiều tri thức quý báu về nghề văn cũng nhưu kinh nghiệm viết văn của ông. Cuốn sách được đánh giá là “một cuốn cẩm nang văn học” đối với “những hậu duệ văn học” [51/30]. Là nhà văn viết khỏe, với trên nửa thế kỉ sáng tác, Nguyễn Công Hoan sáng tác tác trên 200 truyện ngắn, hơn 30 truyện dài và các thể loại khác, ông xứng đáng 10 là một nhà văn lớn, tiêu biểu cho nền văn học hiện thực phê phán Việt Nam. Nếu như Ngô Tất Tố tập trung viết về người nông dân, Vũ Trọng Phụng đả kích vào giai cấp Tư sản, thì đóng góp chủ yếu truyện ngắn Nguyễn Công Hoan là xây dựng thành công một phong trào châm biếm, đả kích các kiểu quan lại và địa chủ cường hào ở nông thôn và thành thị.
Nguyễn Công Hoan viết nhiều thể loại khác nhau: Tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện dài, ký…nhưng ông sống trong độc giả và khẳng định mình trên văn đàn dân tộc chính là thể loại truyện ngắn. Các nhà nghiên cứu Trúc Hà, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Hiếu công nhận: “Cái biệt tài viết tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan chỉ ở trong truyện ngắn”[13]. Nhà văn cũng thừa nhận: “Trong quãng đời hoạt động về văn học trước cách mạng của tôi, tôi đặt nhiều công phu vào viết truyện ngắn [25/207]. Những tập truyện ngắn đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc ta là những truyện ngắn lịch sử đã xuất hiện từ đời Trần, đời Lê.
Từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVI, truyện ngắn dân tộc đã phát triển phong phú và có nhiều kiểu, nhiều màu sắc khác nhau. Với “Thánh Tông di thảo” và “Truền kỳ mạn lục”, những đặc điểm truyền thống của truyện ngắn Việt Nam đã hình thành trọn vẹn. Đến thời kỳ cận đại, những tác phẩm văn xuôi đã chuẩn bị tích cực cho chủ nghĩa hiện thực phê phán ra đời sau những năm 1930. Truyện ngắn của Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, tiểu thuyết và kịch của Trọng Khiêm, Hồ Biểu Chánh, Vũ Đình Long, Nam Xương…bản thân nó chưa phải là những tác phẩm hiện thực phê phán theo ý nghĩa chính xác, đầy đủ của thuật ngữ đó.
Trong lĩnh vực truyện ngắn Nguyễn Công Hoan là người đầu tiên có công khai phá con đường đi đến chủ nghĩa hiện thực phê phán. Đi vào thế giới truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan ta có cảm tưởng như bước vào một khu triển lãm phong phú và nhiều màu vẻ về nhũng cảnh ngộ, những con người đang khóc, đang cười, những niềm vui, nỗi cay đắng buồn đau như là lẽ thường. Truyện ngắn của ông sinh động, hấp dẫn với nhiều thủ pháp nghệ thuật đặc sắc. Từ nghệ thuật kết cấu truyện gọn, chặt chẽ đến cách xây dựng tình huống truyện đầy kịch tính đưa đến một kết thúc bất ngờ làm nổi bật tiếng cười giễu cợt.
Từ nghệ thuật xây dựng nhân vật đặc sắc đến nghệ thuật sử dụng ngôn từ và giọng điệu giản dị, trong sáng, 11 dễ hiểu. Đặc biệt ông rất thành công khi sử dụng thủ pháp trào phúng, gây cười trong truyện ngắn của mình. Truyện ngắn của ông được viết dưới nhiều cung bậc tình cảm. Có truyện ông viết ra để gây căm hờn (Sáng, chị phu mỏ), để làm kinh tởm (Gói đồ nữ trang), để gợi lòng thương (Anh Sẩm; Cái vốn để sinh nhai), hoặc để cười (Samandji).
Có những truyện là tấn hài kịch (Ai khôn; Đàn bà là giống yếu; Một tấm gương sáng), bi kịch (Bộ ba Chiếc quan tài), hoặc bi hài lẫn lộn (Thằng ăn cắp; Hai thằng khốn nạn).