Luận văn thạc sĩ sự chuyển đổi loại hình tác giả văn học việt nam trước cách mạng tháng tám qua trường hợp nguyễn công hoan

Luận văn thạc sĩ phân tích sự chuyển đổi loại hình tác giả văn học Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám qua trường hợp Nguyễn Công Hoan.

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

112
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Nguyễn Công Hoan và sự chuyển đổi loại hình tác giả văn học Việt Nam trước 1945

Nguyễn Công Hoan là một trong những tác giả tiêu biểu của văn học Việt Nam giai đoạn trước 1945. Luận văn tập trung phân tích sự chuyển đổi loại hình tác giả qua sáng tác của ông. Chuyển đổi loại hình ở đây được hiểu là sự thay đổi từ phong cách văn học truyền thống sang hiện đại, phản ánh sự vận động của xã hội và văn hóa. Nguyễn Công Hoan đã kế thừa văn học nhà Nho và tiếp thu văn học Tây Âu, tạo nên phong cách độc đáo. Luận văn nhấn mạnh vai trò của ông trong việc định hình văn học hiện thực phê phán tại Việt Nam.

1.1. Ảnh hưởng của truyền thống gia đình và vùng văn hóa Sơn Nam

Nguyễn Công Hoan sinh ra trong một gia đình có truyền thống Nho học tại vùng văn hóa Sơn Nam. Truyền thống này đã ảnh hưởng sâu sắc đến phong cách sáng tác của ông. Gia đình và vùng đất quê hương đã nuôi dưỡng tinh thần yêu nước và tình cảm nhân văn trong ông. Những tác phẩm của Nguyễn Công Hoan thường phản ánh hiện thực xã hội với góc nhìn sắc sảo, mang đậm dấu ấn của văn hóa Sơn Nam. Điều này thể hiện rõ trong cách ông xây dựng nhân vật và tình huống truyện.

1.2. Sự kết hợp giữa văn học nhà Nho và văn học Tây Âu

Nguyễn Công Hoan đã kết hợp tinh hoa của văn học nhà Nho với những ảnh hưởng từ văn học Tây Âu. Ông chuyển từ lối viết mang tính ước lệ, cổ điển sang phong cách hiện thực, phê phán. Sự chuyển đổi này không chỉ thể hiện qua nội dung mà còn qua nghệ thuậtphong cách viết. Những tác phẩm của ông như 'Kép Tư Bền' và 'Tắt lửa lòng' là minh chứng rõ ràng cho sự kết hợp này, đánh dấu bước ngoặt trong văn học Việt Nam.

II. Sự vận động trong tư tưởng và nghệ thuật của Nguyễn Công Hoan

Luận văn phân tích sự vận động trong tư tưởng và nghệ thuật của Nguyễn Công Hoan qua các giai đoạn sáng tác. Từ những tác phẩm đầu tay đến các tác phẩm trưởng thành, ông đã thể hiện sự thay đổi rõ rệt trong cách nhìn nhận và phản ánh hiện thực. Nguyễn Công Hoan không chỉ là nhà văn hiện thực mà còn là người tiên phong trong việc đưa văn học Việt Nam hòa nhập với thế giới.

2.1. Giai đoạn đầu 1920 1923

Giai đoạn này, Nguyễn Công Hoan bắt đầu sự nghiệp văn chương với những tác phẩm mang tính chất trào phúng, phản ánh hiện thực xã hội. Tác phẩm 'Quyết chí phiêu lưu' là bước khởi đầu cho phong cách hiện thực phê phán của ông. Tuy nhiên, những tác phẩm này chưa thực sự gây được tiếng vang lớn nhưng đã cho thấy sự xuất hiện của một cây bút mới với lối viết độc đáo.

2.2. Giai đoạn trưởng thành 1929 1945

Đây là giai đoạn Nguyễn Công Hoan khẳng định vị trí của mình trong văn học Việt Nam. Những tác phẩm như 'Kép Tư Bền' và 'Tắt lửa lòng' đã đưa ông lên hàng ngũ những nhà văn hàng đầu của văn học hiện thực phê phán. Ông không chỉ phản ánh hiện thực mà còn đưa ra những thông điệp sâu sắc về xã hội và con người. Sự vận động trong tư tưởng và nghệ thuật của ông đã góp phần làm phong phú thêm di sản văn học Việt Nam.

III. Giá trị và ý nghĩa của luận văn

Luận văn không chỉ phân tích sự chuyển đổi loại hình tác giả qua sáng tác của Nguyễn Công Hoan mà còn khẳng định giá trị của ông trong văn học Việt Nam. Những nghiên cứu này góp phần làm sáng tỏ quá trình phát triển của văn học Việt Nam từ truyền thống sang hiện đại. Luận văn cũng là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc giảng dạy và nghiên cứu về Nguyễn Công Hoanvăn học Việt Nam trước 1945.

3.1. Ý nghĩa lý luận

Luận văn đóng góp vào việc nghiên cứu văn học sử bằng cách làm rõ quy luật vận động và phát triển của văn học Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn Công Hoan. Nó cung cấp cái nhìn toàn diện về sự chuyển đổi từ văn học nhà Nho sang văn học hiện thực phê phán, đồng thời khẳng định vai trò của Nguyễn Công Hoan trong quá trình này.

3.2. Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn là nguồn tài liệu quý giá cho việc giảng dạy và nghiên cứu về Nguyễn Công Hoanvăn học Việt Nam trước 1945. Nó giúp người đọc hiểu rõ hơn về sự nghiệp và đóng góp của Nguyễn Công Hoan đối với văn học Việt Nam, đồng thời khơi gợi sự quan tâm đến di sản văn học của giai đoạn này.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho trào lưu văn học tả chân xã hội. Thời kỳ này độc giả muốn có những trang viết về cảnh lầm than của xã hội để thức tỉnh mọi người. Trong tình trạng ấy, tập truyện ngắn Kép Tư Bền ra đời có thể xem là một cái mốc đánh dấu trong sự nghiệp văn chương của nhà văn. Ông viết:“việc cuốn Kép Tư Bền được hoan nghênh làm tôi rằng tôi có thể viết nổi tiểu thuyết và tôi có thể theo đuổi nghề văn” [23/188].

Tập truyện với nghệ thuật độc đáo, mới lạ, có truyện không có cốt truyện (Cô Kếu gái tân thời), có truyện viết không theo hình thức kể chuyện (Thế là mợ nó đi Tây) đã thu hút được đông đảo bạn đọc trong cả nước. Những tiểu thuyết tình cảm lãng mạn của Khái Hưng, Nhất Linh… bị lu mờ, thay vào đó là những tác phẩm hiện thực của Nguyễn Công Hoan. Năm đó, Kép Tư Bền được đánh giá là tập truyện ngắn hay nhất, được mười tám tờ báo ở Trung, Nam, Bắc viết bài khen ngợi và trở thành đề tài cho một cuộc tranh luận về nghệ thuật. Phái nghệ thuật vị dân sinh của Hải Triều đã viết nhiều bài đanh thép để công kích nghệ thuật vị nghệ thuật của Hoài Thanh.

Khi cuộc tranh luận đang trong độ gay cấn nhất thi Hải triều đọc được Kép Tư Bền. Kép Tư Bền trở thành cứu cánh đưa phái nghệ thuật vị dân sinh đi đến thắng lợi. Trong một bài bút chiến của Hải Triều có viết “Cái chủ trương nghệ thuật vị dân sinh của tôi ngày nay đã biểu hiện bằng những bức tranh rất linh hoạt dưới ngòi bút tài tình của văn sĩ Nguyễn công Hoan” [48]. Để khẳng định chủ trương của mình, Hải Triều còn tổ chức buổi gặp mặt tác giả với bạn đọc và trưng cầu ý kiến độc giả tại nhà sách Hương Giang (Huế).

Kết quả của cuộc trưng cầu là tác Phẩm Kép Tư Bền được xếp hàng đầu, tác giả của nó được bạn đọc hoan nghênh nhất. Ông trở thành ngọn cờ đầu của văn học hiện thực phê phán Việt Nam. 8 Thời kỳ mặt trận Dân chủ (1936- 1939), thực dân Pháp nới lỏng chế độ kiểm duyệt sách báo, ngòi bút của Nguyễn Công Hoan được tung hoành hơn. Nhờ ảnh hưởng của Đảng, của sách báo Mác xít, của phong trào quần chúng khắp nơi, những tác phẩm của ông đạt chất lượng cao hơn trước.

Chúng như những chiếc gai nhọn đối với nhà cầm quyền. Thời kỳ ông viết sung sức chưa từng thấy, với hơn 80 truyện ngắn, trong đó có khoảng 30 truyện đả kích bọn quan lại và chế độ thực dân. Ông đưa vào tác phẩm của mình từ cuộc sống Âu hóa lố lăng “Cô Kếu gái tân thời”, đến tệ quan lại tham nhũng “Công dụng của cái miệng”; “Người thứ ba”. Từ cuộc sống vương giả của những kẻ ăn trên ngồi chốc như “Phành phạch”;“Quyền chủ” đến cuộc sống cùng cực của kiếp đi ở “Thằng Quýt”; “Thanh!Dạ”.

Từ đề tài xã hội này, ông đã nhanh chóng chuyển sang đề tài chính trị, không những ông tố cáo tệ tham nhũng, thói dâm ô đểu cáng “Thằng ăn cướp”; “Đồng hào có ma”; “Nạn ô tô”; “Nạn râu”…mà còn vạch trần những thủ đoạn chính trị lừa bịp và cơ hội của bọn quan lại triều đình như “Biểu tình”; “Chiến tuyến bình”, những thủ đoạn mua bán, tranh giành lá phiếu của bọn nghị viên (Trần Thiện – Lê Văn Hà). Đặc biệt ông đã chĩa mũi nhọn đả kích vào một số chính sách của bọn thực dân Pháp: Từ sự xâm lấn từng bước khá nguy hiểm của chính quyền thực dân “Người vợ lẽ bạn tôi” đến những chủ trương cực kỳ vô lý và ngu xuẩn đối với trẻ con không nơi nương tựa như “Giá ai cho cháu một hào”. Từ những thủ đoạn tuyên truyền ầm ĩ cho tên vua bù nhìn bán nước “Đào kép mới” đến những cuộc vận động cho phong trào thể thao một cách bịp bợm, giả dối của tên thống sứ Chatet “Tinh thần thể dục”. Thời kỳ này ông viết nhiều tiểu thuyết, truyện dài: “Ông chủ”; “Bà chủ”(1935), “Cô giáo Minh” (1936), “Cô làm công” (1936), “Bước đường cùng” (1938) và “Cái thủ lợn” (1939).

“Bước đường cùng” được được sáng tác trong vòng 16 ngày trước khi tác giả ra “an trí” ở đảo Trà Cổ. Tác phẩm viết về tình cảnh người nông dân vì thất học, u mê, tăm tối nên bị địa chủ dùng thủ đoạn để cướp nhà, cướp ruộng và bị đẩy vào cuộc sống bần cùng. Bọn địa chủ thì gian ác, hách dịch, đứa nào cũng dựa vào thế quan, thế Tây để bóc lột nhân dân thậm tệ, nhưng cuối cùng những người nông dân cũng giác ngộ, họ biết đoàn kết chống lại địa chủ. Tác phẩm có tính tư tưởng cao, nội dung hiện thực sâu sắc nên vừa ra đời một thời gian 9 ngắn thì bị chính quyền thực dân cấm.

Rút cuộc 5000 cuốn “Bước đường cùng” vẫn được tiêu thụ hết. Đây cũng là cuốn tiểu thuyết trong đó nhà văn đã xây dựng được những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình theo yêu cầu của chủ nghĩa hiện thực. Đề tài của tiểu thuyết ảnh hưởng nhiều của sách báo đảng Cộng Sản bấy giờ và đã gây được tiếng vang lớn trong kỳ mặt trận Dân chủ. Sang những năm dại chiến thế giới II, Nguyễn Công Hoan mất phương hướng và bế tắc.

Từ con đường chủ nghĩa hiện thực ông đi chệch hướng sang con đường chủ nghĩa lãng mạn bảo thủ. Vốn chịu ít nhiều tư tưởng phong kiến, ông đã viết một số tiểu thuyết có khuynh hướng phục cổ, tiêu biểu là “Thanh đạm” (1942). Tác phẩm đề cao Nho giáo, phong tục và sinh hoạt phong kiến cổ xưa. “Thanh đạm” bị lên án gay gắt làm cho Nguyễn Công Hoan trở nên bi quan, chán nản.

Năm 1945, cách mạng tháng 8 thành công, nhà văn vui mừng, hồ hởi mặc áo lính, làm công tác văn hóa trong quân đội và dần có cơ hội trở lại viết văn. Ông sáng tác nhiều truyện dài, nhiều tiểu thuyết xã hội như: “Tranh tối tranh sáng” (1950); “Hỗn canh hỗn cư” (1961); “Đống rác cũ” (1963)…ngoài ra ông còn viết nghiên cứu về Tản Đà, Nguyễn Khuyến, Tú Xương…viết bài cho phát thanh, tham gia vào việc biên soạn từ điển, ngữ pháp tiếng Việt của viện Ngôn ngữ. Đặc biệt, ông viết được nhiều tập hồi ký chân thực và có giá trị: “Đời viết văn của tôi”; “Nhớ gì ghi nấy”… “Đời viết văn của tôi” viết năm 1971, cuốn hồi ký này ghi lại các sự kiện 60 năm văn học nước nhà, từ những bước đầu của ngành báo chí xuất bản. Cuốn sách giới thiệu nhiểu nhà văn, nhà nghiên cứu, trong hoàn cảnh nước ta trước đây các ngành bảo tồn, bảo tàng, xã hội học, dân tộc học chưa phát triển thì đây là tài liệu rất tốt cho giúp cho các thế hệ sau dựng lại bức tranh chân thật về một thời kỳ lịch sử đã qua đồng thời cũng cho họ những chi tiết chính xác về cái xã hội tù túng, quằn quại dưới ách thực dân phong kiến.

Mặt khác, cuốn hồi ký này để lại cho các nhà văn cũng như các nhà nghiên cứu thế hệ sau nhiều tri thức quý báu về nghề văn cũng nhưu kinh nghiệm viết văn của ông. Cuốn sách được đánh giá là “một cuốn cẩm nang văn học” đối với “những hậu duệ văn học” [51/30]. Là nhà văn viết khỏe, với trên nửa thế kỉ sáng tác, Nguyễn Công Hoan sáng tác tác trên 200 truyện ngắn, hơn 30 truyện dài và các thể loại khác, ông xứng đáng 10 là một nhà văn lớn, tiêu biểu cho nền văn học hiện thực phê phán Việt Nam. Nếu như Ngô Tất Tố tập trung viết về người nông dân, Vũ Trọng Phụng đả kích vào giai cấp Tư sản, thì đóng góp chủ yếu truyện ngắn Nguyễn Công Hoan là xây dựng thành công một phong trào châm biếm, đả kích các kiểu quan lại và địa chủ cường hào ở nông thôn và thành thị.

Nguyễn Công Hoan viết nhiều thể loại khác nhau: Tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện dài, ký…nhưng ông sống trong độc giả và khẳng định mình trên văn đàn dân tộc chính là thể loại truyện ngắn. Các nhà nghiên cứu Trúc Hà, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Hiếu công nhận: “Cái biệt tài viết tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan chỉ ở trong truyện ngắn”[13]. Nhà văn cũng thừa nhận: “Trong quãng đời hoạt động về văn học trước cách mạng của tôi, tôi đặt nhiều công phu vào viết truyện ngắn [25/207]. Những tập truyện ngắn đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc ta là những truyện ngắn lịch sử đã xuất hiện từ đời Trần, đời Lê.

Từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVI, truyện ngắn dân tộc đã phát triển phong phú và có nhiều kiểu, nhiều màu sắc khác nhau. Với “Thánh Tông di thảo” và “Truền kỳ mạn lục”, những đặc điểm truyền thống của truyện ngắn Việt Nam đã hình thành trọn vẹn. Đến thời kỳ cận đại, những tác phẩm văn xuôi đã chuẩn bị tích cực cho chủ nghĩa hiện thực phê phán ra đời sau những năm 1930. Truyện ngắn của Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, tiểu thuyết và kịch của Trọng Khiêm, Hồ Biểu Chánh, Vũ Đình Long, Nam Xương…bản thân nó chưa phải là những tác phẩm hiện thực phê phán theo ý nghĩa chính xác, đầy đủ của thuật ngữ đó.

Trong lĩnh vực truyện ngắn Nguyễn Công Hoan là người đầu tiên có công khai phá con đường đi đến chủ nghĩa hiện thực phê phán. Đi vào thế giới truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan ta có cảm tưởng như bước vào một khu triển lãm phong phú và nhiều màu vẻ về nhũng cảnh ngộ, những con người đang khóc, đang cười, những niềm vui, nỗi cay đắng buồn đau như là lẽ thường. Truyện ngắn của ông sinh động, hấp dẫn với nhiều thủ pháp nghệ thuật đặc sắc. Từ nghệ thuật kết cấu truyện gọn, chặt chẽ đến cách xây dựng tình huống truyện đầy kịch tính đưa đến một kết thúc bất ngờ làm nổi bật tiếng cười giễu cợt.

Từ nghệ thuật xây dựng nhân vật đặc sắc đến nghệ thuật sử dụng ngôn từ và giọng điệu giản dị, trong sáng, 11 dễ hiểu. Đặc biệt ông rất thành công khi sử dụng thủ pháp trào phúng, gây cười trong truyện ngắn của mình. Truyện ngắn của ông được viết dưới nhiều cung bậc tình cảm. Có truyện ông viết ra để gây căm hờn (Sáng, chị phu mỏ), để làm kinh tởm (Gói đồ nữ trang), để gợi lòng thương (Anh Sẩm; Cái vốn để sinh nhai), hoặc để cười (Samandji).

Có những truyện là tấn hài kịch (Ai khôn; Đàn bà là giống yếu; Một tấm gương sáng), bi kịch (Bộ ba Chiếc quan tài), hoặc bi hài lẫn lộn (Thằng ăn cắp; Hai thằng khốn nạn).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận văn thạc sĩ: Chuyển đổi loại hình tác giả văn học Việt Nam trước 1945 qua Nguyễn Công Hoan là một nghiên cứu chuyên sâu về sự chuyển đổi vai trò và phong cách của các tác giả văn học Việt Nam trong giai đoạn trước năm 1945, với trọng tâm là nhà văn Nguyễn Công Hoan. Tài liệu này không chỉ phân tích sự phát triển của văn học Việt Nam trong bối cảnh lịch sử, xã hội phức tạp mà còn làm nổi bật sự đóng góp của Nguyễn Công Hoan trong việc định hình nền văn học hiện đại. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về quá trình chuyển đổi từ văn học truyền thống sang hiện đại, cũng như cách các tác giả thích nghi với những thay đổi thời đại.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan, hãy khám phá Luận văn thạc sĩ tính đối thoại trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 để hiểu thêm về sự phát triển của văn học Việt Nam sau giai đoạn này. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ văn học Việt Nam hiện đại: Đặc điểm hồi kí của các nhà thơ Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Xuân Diệu cung cấp góc nhìn sâu sắc về các nhân vật văn học cùng thời. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ hồi ký tự truyện hiện đại Việt Nam từ góc nhìn diễn ngôn thể loại sẽ mở rộng hiểu biết của bạn về thể loại hồi ký trong văn học Việt Nam. Mỗi liên kết là cơ hội để bạn đào sâu hơn vào chủ đề này!