CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA SỰ CHUYỂN BIẾN KINH TẾ – XÃ HỘI THỊ XÃ ĐỒNG XOÀI 1. Một số vấn đề lý luận về chuyển biến kinh tế – xã hội Theo cách hiểu thông thường, chuyển biến kinh tế – xã hội là sự thay đổi trạng thái của nền kinh tế – xã hội từ thời điểm này sang thời điểm khác. Tuy nhiên, các khái niệm kiểu như thế chưa phản ánh được bản chất và chưa nêu ra được mục đích của quá trình chuyển biến (vì đây không phải là một quá trình vận động tự thân mà là quá trình có sự điều khiển chủ quan của con người). Huỳnh Đức Thiện, “Chuyển biến kinh tế – xã hội” có thể hiểu là quá trình thay đổi cả về lượng và chất của nền kinh tế – xã hội.
Đó là một quá trình biến đổi lâu dài, do nhiều yếu tố tác động và quá trình biến đổi đó có sự kết hợp một cách chặt chẽ giữa hai yếu tố kinh tế và xã hội [32; 24]. Nội dung của chuyển biến kinh tế – xã hội được khái quát theo ba phương diện: Một là, sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu nhập bình quân trên đầu người. Đây là phương diện thể hiện quá trình biến đổi về số lượng của nền kinh tế, là điều kiện cần thiết để nâng cao mức sống vật chất và tinh thần của người dân và thực hiện những mục tiêu khái quát của phát triển. Hai là, sự biến đổi theo đúng xu thế vận động của cơ cấu kinh tế.
Đây là phương diện phản ánh sự biến đổi vền chất của nền kinh tế. Để phân biệt các giai đoạn phát triển kinh tế hay so sánh trình độ phát triển giữa các vùng, các quốc gia với nhau, người ta thường dựa vào dấu hiệu về cơ cấu ngành kinh tế mà vùng hay quốc gia đạt được. Ba là, sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội. Mục tiêu cuối cùng của phát triển kinh tế là nâng cao chất lượng cuộc sống người dân, xóa bỏ nghèo đói, suy dinh dưỡng, sự tăng lên của tuổi thọ bình quân, nâng cao các khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, nước sạch, trình độ dân trí giáo dục của người dân.
Hoàn thiện các tiêu chí trên là sự thay đổi về chất xã hội của quá trình phát triển. Như vậy, có thể hiểu chuyển biến kinh tế – xã hội là một quá trình thay đổi về mọi mặt của kinh tế – xã hội trong một thời kì nhất định. Trong đó bao gồm cả tổng mức thu nhập của nền kinh tế, mức gia tăng thu nhập bình quân đầu người, sự tăng lên về quy mô sản lượng, về cơ cấu kinh tế, về hưởng thụ xã hội của người dân. Hơn thế nữa, 9 giống như các lĩnh vực khác trong cuộc sống, theo thời gian thực trạng kinh tế –xã hội cũng luôn có sự thay đổi theo từng thời kì phát triển, bởi các yếu tố hợp thành kinh tế – xã hội không cố định mà luôn luôn biến đổi.
Sự chuyển biến kinh tế – xã hội phản ánh trình độ phát triển của đời sống xã hội, biểu hiện chủ yếu trên hai mặt: một là, kinh tế càng phát triển càng tạo điều kiện cho quá trình biến đổi xã hội trở nên sâu sắc; hai là, sự phát triển của xã hội đến lượt nó lại càng làm cho mối quan hệ kinh tế được củng cố và phát triển. Thông thường sự phát triển về kinh tế sẽ tác động mạnh và phản ánh trình độ phát triển của xã hội. Hay nói cách khác, quá trình chuyển biến kinh tế quyết định chuyển biến xã hội. Các chỉ số chuyển biến kinh tế – xã hội Để đánh giá sự chuyển biến kinh tế – xã hội, người ta hay dùng hai chỉ số về tăng trưởng kinh tế và chỉ số phát triển xã hội.
Các chỉ số tăng trưởng kinh tế: Tăng trưởng kinh tế được đánh giá thông qua sự gia tăng thực tế của tổng sản phẩm quốc dân (GNP), tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hay sản phẩm quốc dân ròng (NNP) trong một thời kỳ nhất định, là giá trị tiền tệ của hàng hóa và dịch vụ hoàn chỉnh do công dân của một quốc gia sản xuất ra ở nước ngoài và trong nước trong một thời kỳ nhất định; bên cạnh đó, là sự gia tăng thực tế theo đầu người của GNP, GDP hay NNP trong một thời kỳ nhất định. Các chỉ số phát triển xã hội: Chỉ số mức tăng dân số; Chỉ số về dinh dưỡng; Chỉ số về giáo dục; Chỉ số về y tế; Chỉ số về tuổi thọ bình quân; Chỉ số phản ánh về công bằng xã hội, nghèo đói; Chỉ số về việc làm; Chỉ số phát triển con người, … 1. Cơ sở thực tiễn 1. Khái quát về Thị xã Đồng Xoài 1.
Điều kiện tự nhiên Thị xã Đồng Xoài (nay là thành phố Đồng Xoài) là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của tỉnh Bình Phước, được thành lập ngày 01/9/1999 và đi vào hoạt động từ ngày 01/01/2000, là tỉnh lỵ, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của cả tỉnh Bình Phước. Phía Tây tiếp giáp huyện Chơn Thành, phía Nam tiếp giáp huyện Đồng Phú và huyện Tân Uyên (tỉnh Bình Dương), phía Đông và phí Bắc tiếp giáp huyện Đồng Phú. Theo đó, Khi mới thành lập Đồng Xoài có tổng diện tích tự nhiên là 168,48km2, với 50.758 nhân khẩu [46; 6], gồm 7 đơn vị hành chính cơ sở là các phường Tân Đồng, Tân Xuân, Tân Bình, Tân Phú và các xã Tiến Thành, Tân Thành, Tiến Hưng. Trung tâm Tỉnh lỵ đặt tại phường Tân Phú, thị xã Đồng Xoài.
Đến ngày 28/3/2007, Chính phủ ban 10 hành Nghị định số 49/2007/NĐ-CP của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính và thành lập phường Tân Thiện thuộc thị xã Đồng Xoài trên cơ sở điều chỉnh 360ha diện tích tự nhiên và 8.664 nhân khẩu của phường Tân Xuân. Như vậy Đồng Xoài có 8 đơn vị hành chính. Đồng Xoài có địa hình khá bằng phẳng và tập trung với quy mô diện tích lớn, trên một nền móng địa chất ổn định, Đồng Xoài rất thuận tiện cho việc xây dựng các công trình hạ tầng, các khu công nghiệp, tập trung dân cư, đồng thời có khả năng thực hiện chức năng sản xuất nông nghiệp và giao lưu kinh tế văn hóa sâu rộng với các tỉnh thành khác.2 Địa hình Nằm ở độ cao trung bình 88,63m so với mực nước biển, trên một nền móng địa chất ổn định, Đồng Xoài rất thuận lợi cho việc xây dựng các công trình hạ tầng, các khu công nghiệp, khu dân cư. Địa hình khu vực thị xã Đồng Xoài tương đối bằng, có địa hình thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam với 2 dạng địa hình chủ yếu là: Dạng địa hình đồi thoải lượn sóng và dạng địa hình bưng bàu thấp trũng.
Cả hai dạng địa hình trên đều bị chia cắt ở mức độ trung bình bởi hệ thống suối nhỏ và có thể cho phép sử dụng cơ giới vào sản xuất [35; 616]. Thổ nhưỡng, tài nguyên thiên nhiên Đồng Xoài có tổng diện tích tự nhiên 167,48km2 (16. Trong đó: đất sản xuất nông nghiệp chiếm 13.544ha (80,95%), đất nuôi trồng thủy sản chiếm 90ha (0,54%), đất chuyên dùng 1. Đồng Xoài có nguồn tài nguyên đất đai giàu có, với tổng diện tích tự nhiên chiếm 2,4% diện tích toàn tỉnh.
Nhìn chung đất đai của Đồng Xoài có tầng phong hoá khá dày, thích hợp với việc trồng các cây công nghiệp, nhất là cây cao su và cây điều. Trên địa bàn Đồng Xoài có 315 ha rừng trồng (xã Tân Thành có 270 ha; xã Tiến Hưng có 45ha), không có rừng tự nhiên. Trên địa bàn Đồng Xoài, không có nhiều khoáng sản, chủ yếu là nguồn khoáng sản đá, gỗ phục vụ cho ngành công nghiệp xây dựng [35; 616]. Đất đai ở Đồng Xoài rất thích hợp với các loại cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao như cao su, điều, cà phê, tiêu… Bên cạnh những loại cây công nghiệp dài ngày, đất đai ở đây còn thích hợp nhiều loại cây màu, lương thực nhưng hạn chế lớn nhất trong trồng trọt là thiếu nguồn nước tưới mùa khô nên mới chỉ phát triển vào mùa mưa.
Nguồn nước sử dụng cho sản xuất, sinh hoạt chủ yếu là nguồn nước ngầm. 11 Trong lòng đất ở Đồng Xoài có một số loại khoáng sản phi kim loại với trữ lượng lớn. Trên địa bàn các xã: Tân Thành, Tiến Hưng và phường Tiến Thành có khoáng sản phún sỏi đỏ với trữ lượng khoảng 3,6 triệu m3, đá xây dựng có trữ lượng khoảng 40 triệu m3. Ở phường Tân Xuân và phường Tiến Thành có khoáng sản đất sét với trữ lượng khoảng 8 triệu m3.
Các loại khoáng sản này là nguồn cung cấp nguyên vật liệu quan trọng cho ngành công nghiệp xây dựng của thị xã và cả tỉnh Bình Phước. Tài nguyên nước Đồng Xoài gồm nước ngầm và nước mặt. Nước ngầm tập trung ở phía nam Đồng Xoài, nguồn nước ngầm có 3 tầng trữ nước với chất lượng tốt. Độ sâu trung bình của nguồn nước ngầm từ 60 đến 100m.
Lưu lượng nước ngầm từ 5 đến 9 lít/giây, ở vùng trũng có thể từ 9 đến 12 lít/giây. Nguồn nước mặt trên địa bàn Đồng Xoài có diện tích khoảng 101,35ha các sông, hồ, đập lớn như: sông Bé chạy theo ranh giới phía tây Đồng Xoài khoảng 10 đến 12km; suối Rạt chạy theo ranh giới phía đông nam Đồng Xoài; suối Cam, suối Sông Rinh, suối Sam Bring, suối Dríp, hồ Tà Môn (xã Tân Thành), đập Phước Hòa (xã Tiến Hưng),… là nguồn nước chủ yếu để phục vụ nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt. Giao thông Đồng Xoài là trung tâm tỉnh lỵ – nơi có nhiều tuyến đường quan trọng, là đầu mối giao thông đường bộ huyết mạch nối liền tỉnh Tây Nguyên với tỉnh Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh và các huyện, thị, thành phố trong tỉnh. Mạng lưới giao thông thị xã trong những năm gần đây đã phát triển khá mạnh, hệ thống đường đô thị đã được nâng cấp và làm mới khá nhiều.
Trên địa bàn thành phố có 3 tuyên giao thông quan trọng: Quốc lộ 14 và đường ĐT741 và đường ĐT753 đã hoàn thiện với quy mô 4 - 6 làn xe, mặt đường bê tông nhựa, lộ giới 42 - 52m. Hệ thống đường giao thông nội địa của các phường, xã được đầu tư, nâng cấp và mở rộng khá đồng bộ và hiện đại. Tổng chiều dài hệ thống đường bộ toàn thành phố khoảng 290,42km. Hệ thống giao thông của thị xã Đồng Xoài trong những năm gần đây phát triển mạnh, rộng khắp và phân đều ở các phường, xã.