Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG MINH TRONG THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH TẠI TÒA ÁN 1. Chứng minh và vai trò của nó đối với việc giải quyết tranh chấp kinh doanh tại Toà án 1. Khái niệm chứng minh Chứng minh trong giải quyết tranh chấp được biết đến ngay từ những thời đại xa xưa của xã hội loài người. Các nhà nghiên cứu về lịch sử pháp luật đều thống nhất hoạt động chứng minh thường gắn liền với quá trình tranh tụng - loại hình tố tụng đầu tiên được áp dụng tại Hy Lạp cổ đại, sau này được đưa vào La Mã với tên gọi “thủ tục hỏi đáp liên tục”.
Trong thời La Mã, loại hình tố tụng xuất hiện sớm nhất là tố tụng theo nghi thức (legisactioné). Theo Luật XII bảng, để bắt đầu xét xử, các bên phải có mặt trước quan chấp chính. Nguyên đơn (chủ nợ) có quyền dẫn giải bị đơn (người mắc nợ) đến toà. Trước quan chấp chính, các bên nguyên và bên bị phải phát ngôn theo quy định về câu chữ và những hành vi tượng trưng.
Kết thúc quá trình tự xét xử này là litis contestatio (thụ lý tranh chấp có người làm chứng) hoặc là sự khẳng định đối tượng tranh chấp trước các nhân chứng 7 và chuyển tranh chấp cho quan toà giải quyết, sau đó quan toà sẽ xét xử với sự có mặt của các bên và nhân chứng. Tại đây, các chứng cứ mà các bên đương sự nêu ra được thẩm định và thông qua án quyết.235-238] Tiếp theo, quá trình chứng minh này được thay đổi cùng với sự ra đời của hình thức tố tụng tranh tụng legisactiones formular (tố tụng công thức) trong đó hoạt động chứng minh được thực hiện thông qua việc: “Bên nguyên đơn và bị đơn đưa ra các chứng cứ, sau đó quan toà thu thập lại rồi chuyển cho toà, chánh án toà là người đưa ra phán quyết cuối cùng” [23, tr. Cùng với thời gian, quá trình chứng minh được kế thừa và phát triển với nội dung và mức độ khác nhau trong khoa học luật tố tụng kinh tế và dân sự, trong đó nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự còn được thừa nhận là một trong những nguyên tắc của tố tụng dân sự ở các nước theo hệ thống luật lục địa cũng như hệ thống luật án lệ. Theo pháp luật của các nước thuộc hệ thống luật lục địa mà điển hình là nước Pháp, tại Bộ luật tố tụng dân sự Pháp năm 1807 quy định: “Hai bên đương sự có bổn phận tổ chức điều khiển lấy vụ kiện; trong vụ kiện có tương quan đến quyền lợi hoàn toàn của tư nhân, Thẩm phán ngồi xử chỉ đóng vai trò khán giả hay trọng tài, mà không có quyền đôn đốc, thúc đẩy hay ra mệnh lệnh” [22, tr.8], có nghĩa là “nguyên cáo tự mình đảm nhận lấy việc mướn thừa phát lại gởi triệu hoán trạng đòi bị đơn ra toà, tự mình lo liệu lấy việc thẩm cứu vụ kiện, viện dẫn chứng cứ, xúc tiến xin xét xử… Khi hai bên hoàn tất hồ sơ và đệ nạp giấy tờ thủ tục lên toà, lúc đó Toà án mới nghị án để cứu xét”.379] Ở các nước theo trường phái án lệ mà điển hình là nước Mỹ, Giáo sư Michael Browde cho rằng: 8 Nước Mỹ thừa hưởng bốn truyền thống luật của nước Anh, trong đó truyền thống thứ hai thừa hưởng luật của Anh là hệ thống đối nghịch (contradiction system).
Lý thuyết về hệ thống đối nghịch cụ thể: Ví dụ: bên trái là nguyên đơn, bên phải là bị đơn và mỗi bên này đều có luật sư của họ đại diện, như vậy trong sự tranh luận giữa luật sư của nguyên đơn và luật sư của bị đơn thì sẽ nảy sinh qua sự tranh luận này. Đó là lý thuyết chung, trên thực tế thì đôi khi không phải như vậy. Khía cạnh trong hệ thống đối nghịch đóng vai trò quan trọng là mỗi bên có nhiệm vụ đưa ra bằng chứng, xây dựng những tranh luận pháp lý của mình. Nếu nhìn về khía cạnh khác thì chính các bên sẽ kiểm soát vụ kiện ấy.
Kết quả vủa việc đó Thẩm phán sẽ là người thứ ba đứng trung gian và ra quyết định và có thái độ vô tư, họ là trọng tài.5-6] Ở Việt Nam, khái niệm chứng minh có thể được nhận xét dưới các bình diện dưới đây: Về mặt ngôn ngữ: Theo từ điển tiếng Việt năm 2003 thì “Chứng minh là làm cho thấy rõ là có thật, là đúng bằng sự việc hoặc bằng lý lẽ” [30, tr.192] Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam năm 1995: “Chứng minh là một kiểu lập luận. Đó là quá trình tư duy sử dụng nhiều lý lẽ khác nhau, gọi là luận cứ để bảo vệ sự đúng đắn của một hoặc nhiều tư tưởng khác nhau, gọi là luận đề”.547] Theo cách giải thích này thì chứng minh là quá trình giải quyết vụ kiện theo đó đương sự làm rõ sự thật khách quan của vụ kiện thông qua việc đưa ra các chứng cứ, lý lẽ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. 9 Về mặt pháp lý: Khái niệm chứng minh đã chính thức được ghi nhận trong các Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án lao động năm 1996. Trong đó tại Điều 3 PLTTGQCVAKT quy định: “Đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền lợi của mình”.
Trong việc giải quyết vụ án kinh tế, đương sự có nghĩa vụ cung cấp, thu thập tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của mình. Tòa án không có nghĩa vụ điều tra, xác minh về sự thật của vụ án. Các quy định liên quan đến chứng minh và chứng cứ tiếp tục được kế thừa và phát triển trong BLTTDS, theo đó: “Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp” (Điều 6). Về mặt lý luận: Chứng minh là hoạt động có tính chất chi phối kết quả giải quyết tranh chấp kinh doanh của Toà án nên có nội hàm rất rộng.
Có ý kiến cho rằng: “ Chứng minh thường được hiểu theo nghĩa là hoạt động cung cấp chứng cứ, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ ” [13, tr.133] Các hoạt động chứng minh được diễn ra suốt trong quá trình giải quyết vụ án và bao gồm nhiều hoạt động khác nhau của các chủ thể tố tụng. Trong đó, hoạt động cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ của các chủ thể là chủ yếu và mang tính quyết định. Tuy nhiên nếu hiểu chứng minh là hoạt động cung cấp chứng cứ, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ và chủ thể chứng minh thường được hiểu là đương sự là chưa chính xác. Nếu xem xét một cách đầy đủ và toàn diện thì trong quá trình tố tụng ngoài việc cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ, các chủ thể tố tụng còn phải làm rõ cả những cơ sở pháp lý liên quan đến các yêu cầu trong vụ án.
Tham gia vào quá trình này không chỉ có các đương sự mà còn 10 có chủ thể khác như người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người giám định, người làm chứng…Do vậy, chứng minh không đồng nghĩa với thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ và chủ thể chứng minh trong giải quyết tranh chấp kinh doanh không chỉ là các đương sự. Chứng minh bao gồm cả hoạt động cung cấp, thu thập, đánh giá chứng cứ và chỉ ra các căn cứ pháp lý để làm cho mọi người nhận thức đúng sự việc. Để giải quyết được tranh chấp thì mọi vấn đề của vụ án dù ai nêu ra cũng đều phải được làm rõ trước khi Tòa án quyết định. Đặc thù trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thực chất là những người tham gia tố tụng, những người tiến hành tố tụng cùng nhau lập lại bức tranh toàn cảnh về quan hệ pháp luật mà các bên tranh chấp một cách trung thực, khách quan, toàn diện với đầy đủ các chứng cứ tài liệu, các tình tiết khác nhau về quan hệ pháp luật trên cơ sở các thủ tục được quy định bởi pháp luật tố tụng.
Để có thể tìm ra chân lý, xác định sự thật khách quan mà từ đó phát sinh tranh chấp thì các chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng phải: - Phát huy tính chủ động tích cực trong cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ, tài liệu, các tình tiết liên quan một cách chính xác, khách quan và đầy đủ; - Đưa ra các lý lẽ, các quan điểm khác nhau, viện dẫn các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các bên theo quan hệ pháp luật mà từ đó phát sinh tranh chấp. Đây chính là phương pháp khoa học và công bằng nhất để tiếp cận đến việc làm rõ quyền và nghĩa vụ đích thực của các bên theo đúng quy định của pháp luật. Tất cả các hoạt động như: thu thập, cung cấp, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ …đều có thể hiểu là một trong những công đoạn của quá trình chứng minh. 11 Từ những phân tích kể trên có thể đi đến kết luận: Chứng minh trong giải quyết tranh chấp kinh doanh là quá trình xác định sự thật khách quan về vụ kiện được bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi kiện và kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, theo đó các các chủ thể tố tụng sử dụng chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để làm rõ các sự kiện, tình tiết cuả vụ án.
Khi giải quyết tranh chấp kinh doanh, Toà án chủ yếu căn cứ vào các chứng cứ do đương sự đưa ra. Đương sự phải cung cấp cho Toà án những chứng cứ cần thiết để chứng minh cho yêu cầu của mình. Mỗi vụ án kinh doanh, thương mại phát sinh tại Toà án thường chứa đựng những mâu thuẫn nhất định giữa các bên đương sự, nên rất phức tạp. Các tranh chấp này được phát sinh giữa các tổ chức, cá nhân có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận; tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ giữa các cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận hoặc có thể là những tranh chấp phát sinh trong quá trình nội bộ trong quản trị nội bộ doanh nghiệp…Chứng minh trong tranh chấp kinh doanh có những đặc điểm sau: 1.