Chương 1. Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại tòa án và pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại toà án; Chương 2. Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại toà án và thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh; Chương 3. Định hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nói chung và Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh nói riêng 6 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƢƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƢƠNG MẠI TẠI TOÀ ÁN 1.
Khái quát chung về giải quyết tranh chấp kinh doanh thƣơng mại tại Tòa án 1. Khái niệm, đặc điểm tranh chấp kinh doanh thương mại 1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại Bất kỳ quan hệ xã hội nào đều có thể xảy ra những mâu thuẫn hay xung đột giữa các bên. Đặc biệt, trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay, các quan hệ thương mại có xu hướng đa dạng và phức tạp hơn khiến cho số lượng những tranh chấp kinh doanh thương mại c ng gia tăng.
Việc nghiên cứu khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại giúp định nghĩa, nhận biết được loại tranh chấp này. Tại Việt Nam, khái niệm tranh chấp thương mại trong từng giai đoạn là khác nhau c ng có nhiều cách hiểu khác nhau. Lần đầu tiên khái niệm tranh chấp thương mại được ghi nhận trong Luật Thương mại năm 1997 tại Điều 238 như sau: “Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại”. Theo đó, nội hàm hoạt động thương mại theo quy định của Luật Thương mại năm 1997 rất hẹp so với quan niệm quốc tế về thương mại.
Hoạt động thương mại chỉ bao gồm ba nhóm: Hoạt động mua bán hàng hóa; cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại. Tranh chấp thương mại và hoạt động thương mại theo quy định của Luật Thương mại năm 1997 đã loại bỏ rất nhiều tranh chấp mà xét về bản chất thì các tranh chấp đó có thể được coi là tranh chấp thương mại. Vì vậy đã dẫn đến các xung đột pháp luật trong 7 hệ thống pháp luật, giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế, trong đó có cả những C ng ước quốc tế quan trọng mà Việt Nam đã là thành viên (Công ước New York năm 1958) gây kh ng ít những trở ngại, rắc rối trong thực tiễn áp dụng và chính sách hội nhập [6]. Luật Thương mại số 36/2005/ QH11 (sau đây gọi chung là Luật Thương mại 2005), Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 (sau đây gọi chung là Luật Doanh nghiệp 2014) và Luật Trọng tài thương mại số 54/2010/QH12 (sau đây gọi chung là Luật Trọng tài thương mại 2010) kh ng đưa ra khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại.
Trong Luật Thương mại 2005 đưa ra định nghĩa hoạt động thương mại “là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”. Tại Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 (sau đây gọi chung là Bộ luật Tố tụng dân sự 2015) c ng chỉ quy định những trường hợp tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mà kh ng có khái niệm cụ thể. C ng có nhiều quan niệm về tranh chấp kinh doanh thương mại, cụ. thể: Tác giả Đồng Ngọc Ba: “Tranh chấp thương mại là những bất đồng (xung đột) về quyền, nghĩa vụ và lợi ích giữa các chủ thể trong quá trình tổ chức quản lý và thực hiện hoạt động thương mại” [1].
Theo tác giả Hoàng Minh Chiến: “Tranh chấp trong kinh doanh (hay tranh chấp thương mại) là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động kinh doanh hoặc có liên quan đến hoạt động kinh doanh” [4] Tác giả Nguyễn Quý Trọng đưa ra quan điểm, "Tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại" [14]. Từ những phân tích trên, có thể thấy hiện nay, vẫn chưa đưa ra được 8 cách hiểu thống nhất, đặc biệt là chưa có văn bản pháp lý nào quy định cụ thể khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại mà chỉ dừng lại ở vấn đề quan điểm của một số tác giả trên cơ sở tiếp cận nó thông qua luật nội dung và luật tố tụng. Như vậy có thể rút ra định nghĩa “tranh chấp kinh doanh thương mại là những mâu thuẫn, xung đột về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại (hoạt động có mục đích sinh lời)”. Đặc điểm tranh chấp kinh doanh thương mại Đặc điểm của tranh chấp kinh doanh thương mại là những điểm nổi bật, tiêu biểu, khác biệt so với các tranh chấp dân sự và tranh chấp lao động.
Nó mang những nét đặc trưng riêng, cụ thể: Thứ nhất, chủ thể tranh chấp, khác với những tranh chấp thông thường, chủ thể của tranh chấp kinh doanh thương mại chủ yếu là thương nhân. Tuy nhiên, c ng có một số trường hợp, các cá nhân tổ chức khác c ng có thể là chủ thể của tranh chấp kinh doanh, thương mại như tranh chấp giữa công ty với thành viên công ty; tranh chấp giữa các thành viên công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, hợp nhất, giải thể, chia, tách công ty; tranh chấp giữa các bên không phải là Thương nhân nhưng có thỏa thuận về việc giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật Thương mại và các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại. Khoa học pháp lý gọi giao dịch này là giao dịch hỗn hợp (hành vi hỗn hợp), về bản chất, hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân kh ng phải là hoạt động thương mại thuần túy, nhưng bên kh ng nhằm mục đích sinh lợi đã chọn áp dụng Luật Thương mại thì quan hệ này trở thành quan hệ pháp luật thương mại và tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật này phải được quan niệm là tranh chấp thương mại [5]. Quy tắc được pháp luật của Pháp và nhiều quốc gia áp dụng để giải quyết loại 9 tranh chấp này đó là căn cứ vào bị đơn là thương nhân hay không phải là thương nhân.
Nếu bị đơn là thương nhân thì nguyên đơn (bên có hành vi dân sự) có thể chọn Toà thương mại hoặc Tòa dân sự để giải quyết vụ tranh chấp. Trường hợp nguyên đơn chọn Toà thương mại thì các quy định khắt khe hơn của Luật Thương mại được áp dụng để giải quyết vụ tranh chấp. Ngược lại, bị đơn kh ng phải là thương nhân thì nguyên đơn (bên có hành vi thương mại) chỉ có quyền kiện ra Toà dân sự và Luật dân sự được áp dụng để giải quyết vụ tranh chấp mà các quy định của Luật Thương mại không thể áp dụng cho đối phương kh ng phải là thương nhân. Thứ hai, nguồn gốc của tranh chấp kinh doanh thương mại.
Tranh chấp kinh doanh thương mại phải phát sinh từ hoạt động thương mại. Hoạt động thương mại là hoạt động có mục đích sinh lời. Các bên tuy hợp tác, song vẫn cạnh tranh nhau để sao cho mình thu về được lợi ích nhiều nhất. Chính vì thế sẽ không tránh khỏi những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ, c ng như quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ đó của các bên trong hoạt động thương mại - đó chính là những tranh chấp thương mại.
Thứ ba, về nguồn gốc phát sinh tranh chấp kinh doanh thương mại. Tranh chấp kinh doanh thương mại là tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh thương mại. Hoạt động kinh doanh thương mại thường rất đa dạng, chịu sự tác động, điều tiết của các quy luật và yếu tố của thị trường, ví dụ như quy luật cung cầu, sự biến đổi của quy luật về giá. tranh chấp có thể phát sinh từ việc vi phạm hợp đồng hay góp vốn vào công ty hay chuyển giao công nghệ.
Thứ tư, tranh chấp kinh doanh thương mại được biểu hiện ra bên ngoài là sự phản ánh của những xung đột về mặt lợi ích kinh tế của các bên. Khái niệm, đặc điểm giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng tòa án Luật Thương mại 2005, Luật Trọng tài thương mại 2010, Bộ luật tố 10 tụng dân sự 2015 và các văn bản luật khác c ng kh ng khái niệm thế nào là giải quyết tranh chấp thương mại. Tại Luật Thương mại 2005 c ng chỉ liệt kê các hình thức giải quyết tranh chấp bao gồm: “(i) Thương lượng giữa các bên (ii) Hòa giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn là trung gian hòa giải. Thuật ngữ “giải quyết” được hiểu là “làm cho kh ng còn thành vấn đề nữa” [19, tr.
Từ phân tích trên có thể hiểu, “giải quyết tranh chấp KDTM là tổng hợp các cách thức, biện pháp được các chủ thể quan hệ KDTM áp dụng hoặc th ng qua một người thứ ba để loại bỏ các mâu thuẫn, bất đồng về lợi ích kinh tế phát sinh giữa họ”. Hiện nay, theo quy định của pháp luật, có tất cả 4 phƣơng thức giải quyết tranh chấp KDTM phổ biến, đó là: Thương lượng, Hòa giải, Trọng tài thương mại và thủ tục tư pháp tại Tòa án. Trong đó, thủ tục tư pháp tại Toà án là phương thức đặc biệt, cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước và thực hiện theo một trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ. Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng Tòa án là hình thức giải quyết tranh chấp th ng qua hoạt động của cơ quan tài phán nhà nước, nhân danh quyền lực của nhà nước để đưa ra phán quyết buộc các bên có nghĩa vụ thi hành, kể cả sức mạnh cưỡng chế.
Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 c ng kh ng quy định cụ thể về việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng phương thức Tòa án, mà chỉ liệt kê những tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án. Nhược điểm của phương pháp liệt kê này đó là kh ng thể bao hàm được toàn bộ những tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án, c ng chính là một thiếu sót trong quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.