Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ Nhân học chuyên ngành Nhân học văn hóa (mã số 62316501) của tác giả Nguyễn Văn Trung, với đề tài "Chủ đất trong cộng đồng người Ma Coong ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình", được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2014, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Hồng Hạnh và TS. Lý Hành Sơn.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Người Ma Coong là một nhóm địa phương thuộc dân tộc Bru-Vân Kiều, cư trú tập trung chủ yếu tại 19 bản làng dọc biên giới Việt - Lào thuộc hai xã Thượng Trạch và Tân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, cộng đồng này có 400 hộ với 1.950 nhân khẩu. Địa bàn cư trú nằm ở khu vực vùng núi đá vôi hẻo lánh của dãy Trường Sơn, đời sống kinh tế truyền thống dựa chủ yếu vào canh tác nương rẫy, săn bắt, hái lượm và mang tính chất tự cung tự cấp.

Trước khi có sự quản lý hành chính của Nhà nước hiện đại, cộng đồng người Ma Coong vận hành theo cơ chế tự quản dưới sự điều hành của cá nhân thủ lĩnh, được gọi là chủ đất hay chủ xứ (a châu cu téc / a châu kruông). Trong khi ở nhiều nhóm lân cận như Vân Kiều, Khùa, Trì, A Rem, vị thế chủ xứ đã mờ nhạt hoặc chỉ còn tồn tại qua truyền thuyết, thì ở người Ma Coong, ngôi vị chủ đất và dòng họ chủ đất vẫn duy trì vai trò thực tế. Chủ đất vừa tham gia tham vấn cho chính quyền cơ sở trong các hoạt động an ninh trật tự, quy hoạch hạ tầng, quan hệ biên giới, vừa trực tiếp tổ chức và điều hành các sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng cộng đồng như lễ hội đập trống và lễ tế trâu. Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu về dân tộc Bru-Vân Kiều nói chung, nhưng các nghiên cứu chuyên khảo về nhóm Ma Coong và thiết chế chủ đất của họ vẫn còn là khoảng trống khoa học.

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án được xác định gồm 3 nội dung:

  1. Tìm hiểu về sự hình thành và đặc điểm người chủ đất cũng như cơ sở duy trì, trao truyền chức chủ đất trong cộng đồng người Ma Coong ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
  2. Làm rõ vị trí, vai trò và sự đóng góp của người chủ đất trong việc ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa ở cộng đồng người Ma Coong trước đây cũng như hiện nay.
  3. Đề xuất kiến nghị nhằm phát huy vai trò của người chủ đất để ổn định và phát triển cộng đồng người Ma Coong ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Các câu hỏi nghiên cứu chính được đặt ra trong văn bản bao gồm:

  1. Chủ đất của người Ma Coong là ai, được hình thành và nối truyền như thế nào?
  2. Chủ đất có vị trí, vai trò gì trong đời sống và thiết chế xã hội truyền thống cũng như hiện tại?
  3. Trong bối cảnh hiện nay, sự tương tác giữa chủ đất với các chủ trương, chính sách của Nhà nước và sự tham gia của các cấp chính quyền, đoàn thể diễn ra như thế nào?
  4. Niềm tin và sự nhìn nhận, đánh giá của cộng đồng Ma Coong đối với chủ đất ra sao?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Người chủ đất và vai trò của người chủ đất trong cộng đồng người Ma Coong, được xem xét toàn diện qua nhân thân, quá trình hình thành, phương thức kế truyền thế tập, thế giới quan, cũng như vai trò thực tiễn trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo tồn văn hóa truyền thống.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn nghiên cứu trọng tâm là hai xã Thượng Trạch và Tân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình (tập trung chủ yếu tại xã Thượng Trạch). Địa bàn mở rộng phục vụ so sánh gồm bản Nòong Ma và bản Pà Ác thuộc xã Nòong Ma, huyện Bua La Pha, tỉnh Khăm Muộn (Lào), cùng các cộng đồng cư dân cận cư như Vân Kiều, Trì, Khùa, A Rem.
  • Phạm vi thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu biến đổi làng bản và vai trò chủ đất qua hai giai đoạn: trước và sau thời kỳ Đổi mới (năm 1986) đến thời điểm hoàn thành nghiên cứu (năm 2013-2014).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu của học giả nước ngoài

Các tài liệu của học giả nước ngoài về dân tộc Bru-Vân Kiều xuất hiện chủ yếu từ thời kỳ thuộc Pháp và giai đoạn chiến tranh trước năm 1975:

  • Nhóm tài liệu thám hiểm, địa lý quân sự thời Pháp thuộc: Công trình của Anonyme (1906, 1921), Cadière và Cosserat (1929), Harmand (1880), Macey (1905). Các tác phẩm này ghi chép sơ lược về địa bàn cư trú, tuyến đường giao thông từ Savanakhet sang Lao Bảo và bắt đầu nhắc đến tộc danh Bru.
  • Công trình nghiên cứu dân tộc học của Joaan L. Bchroch và cộng sự (1966) do Bộ Quân lực Mỹ xuất bản (bản dịch của Phạm Khắc Hồng), mô tả người Bru (được gọi kèm tên Hương Kong) với các làng biệt lập, ngôn ngữ Môn - Khơ-me, các nghi lễ hiến tế súc vật do già làng điều hành.
  • Nghiên cứu của John D. Miller (nghiên cứu thực địa từ năm 1959 đến 1971 tại miền Nam Việt Nam) công bố trên tạp chí quốc tế Đông Nam Á về "Quan hệ thân thuộc của người Bru", chỉ ra vai trò của "người đầu làng" - người nắm giữ tri thức luật tục, điều hành nghi lễ và kiểm soát quyền sở hữu đất đai trong làng Bru.
  • Công trình của Gabor Vargyas về "Người Bru qua một thế kỷ văn học" (bản dịch của Nguyễn Bích Lợi), tổng kết lịch sử tiếp cận của các nhà thám hiểm phương Tây đối với cư dân Bru ở lưu vực sông Mê Kông và miền Tây Quảng Bình - Quảng Trị.

Các hướng nghiên cứu trong nước

  • Giai đoạn trước năm 1975: Các công trình của Vương Hoàng Tuyên (1963), Mạc Đường (1963), Phan Hữu Dật (1964) nghiên cứu về nguồn gốc và phân bố ngữ hệ Môn - Khơ-me, nhóm Nam Á ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ.
  • Giai đoạn sau năm 1975:
    • Ngô Đức Thịnh (1975) với bài viết "Mối quan hệ tộc người của các nhóm Bru ở Bình Trị Thiên", phân định các nhóm địa phương Bru Vân Kiều, Bru Trì, Bru Khùa, Bru Ma Coong.
    • Viện Dân tộc học (1978) trong cuốn "Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc)", phân tích lịch sử thiên di của các nhóm Bru từ Trung Lào sang dãy Trường Sơn, tập trung vào nhóm Bru Vân Kiều xung quanh núi Viên Kiều (Quảng Trị).
    • Các công trình chuyên đề về hôn nhân, gia đình, tang ma của người Bru-Vân Kiều: Hồ Xuân Linh (1995), Lê Phạm Minh Quý (1996), Lý Tùng Hiếu (1996), Vũ Đình Lợi (1996), Hồ Chư (1998).
    • Nghiên cứu về già làng và người có uy tín: Trần Khải Định (1998), Nguyễn Thế Huệ (2002, 2007), Linh Nga Niê Kdam (2004) nghiên cứu về vai trò già làng ở Tây Nguyên trong luật tục và phát triển bền vững.
    • Nghiên cứu trực tiếp về chủ đất: Vũ Lợi (1981) với cuốn "Cơ cấu tổ chức làng Bru cổ truyền ở huyện Hướng Hóa, Bình Trị Thiên" phân tích chức năng của chủ làng (xuất-vil) và chủ đất (xuất cu tẹ); Tạ Long và Ngô Thị Chính phân tích thiết chế trên làng (k’ruông) của người Chứt và Bru-Vân Kiều ở Quảng Bình; Nguyễn Hữu Thông và cộng sự (2007) khảo cứu diện mạo các tộc người thiểu số miền Tây Quảng Bình.
    • Các công trình của chính tác giả Nguyễn Văn Trung (2011, 2012, 2013) về lễ hội đập trống, biểu tượng trống và phong tục tập quán của người Ma Coong.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các nghiên cứu trước đây phần lớn dừng lại ở việc mô tả khái quát dân tộc Bru-Vân Kiều hoặc nhóm Bru Vân Kiều tại Quảng Trị, khảo tả đơn thuần phong tục mà thiếu phân tích cấu trúc chức năng. Thiết chế chủ đất của người Ma Coong tại Bố Trạch (Quảng Bình) với tư cách là chủ xứ (a châu kruông), nắm quyền điều hành luật tục, sở hữu đất đai và duy trì các đại lễ cộng đồng (lễ hội đập trống, lễ tế trâu) chưa từng được nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và độc lập. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách làm rõ nguồn gốc lịch sử, phương thức trao truyền dòng họ, vai trò kinh tế - xã hội, văn hóa tâm linh của chủ đất Ma Coong trong bối cảnh truyền thống và đương đại.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khái niệm cơ bản

  • Chủ đất: Luận án tiếp cận chủ đất trong quan hệ cộng đồng thôn bản. Chủ đất người Ma Coong (a châu cu téc, a châu kruông, hay được gọi tôn kính là a chuôi gieng - ông trời, a chuôi toong gieng - ông cúng trời) là người thuộc dòng họ có công khai phá vùng đất, được cộng đồng thừa nhận trao quyền thiết lập luật tục, quản lý tài nguyên và giữ vai trò chủ tế duy nhất trong các lễ cúng quy mô xứ (kruông).
  • Cộng đồng: Được tiếp cận theo định nghĩa của Robert Redfield (phạm vi xã hội thu nhỏ, tính đồng nhất lãnh thổ, ý thức riêng biệt, thẩm quyền không gian - thời gian), Luật Đất đai năm 2003, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 và tài liệu lâm nghiệp cộng đồng (GTZ-REFAS). Trong luận án, cộng đồng được xác định cụ thể là 19 bản làng người Ma Coong tại huyện Bố Trạch.
  • Dòng họ: Tổ chức thân tộc huyết thống. Người Ma Coong gọi dòng họ truyền thống là nòi (như nòi Chi re, nòi Ra bôi, nòi Senl - dòng họ chủ đất, nòi Bơ hơ). Tiêu chí nhận biết dòng họ là việc cùng thờ ma tổ tiên (ma mót). Sau năm 1945, người Ma Coong lấy họ Đinh cho nam giới và họ Y cho nữ giới.
  • Già làng và Hội đồng già làng: Già làng (pake, khi già yếu không làm việc gọi là thâu) là người đứng đầu từng bản làng. Toàn bộ cộng đồng Ma Coong chỉ có một già làng chung của cả xứ, đồng thời là người giữ ngôi vị chủ đất.
  • Văn hóa truyền thống: Hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần được hình thành trong lịch sử, kết tinh qua thời gian và có sức mạnh chi phối hành vi cộng đồng trong đời sống hiện đại.

Khung lý thuyết

  1. Thuyết đặc thù lịch sử (Franz Boas): Tiếp cận văn hóa dựa trên việc kiểm chứng ba yếu tố: điều kiện môi trường, yếu tố tâm lý và các mối quan hệ lịch sử cụ thể, giúp giải thích sự hình thành vùng đất Cà Roòng và vai trò lịch sử của dòng họ chủ đất họ Senl.
  2. Thuyết chức năng:
    • Chức năng tâm lý học (Bronislaw Malinowski): Xem xét các thực hành nghi lễ và tập tục như công cụ đáp ứng nhu cầu tâm lý, giải tỏa lo âu và củng cố niềm tin của cư dân nương rẫy.
    • Cấu trúc - chức năng (A. Radcliffe-Brown): Phân tích vai trò, địa vị của chủ đất như một thành tố duy trì sự cân bằng, liên kết của "cơ thể xã hội" và cấu trúc làng bản.
  3. Thuyết cấu trúc nghi lễ (Émile Durkheim và trường phái Nhân học Anh): Giải thích hệ thống tín ngưỡng, nghi lễ hiến tế (lễ hội đập trống, lễ tế trâu) như một biểu hiện phản ánh cấu trúc xã hội, có chức năng tái tạo trật tự xã hội và củng cố uy tín của chủ lễ.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

  • Phương pháp luận: Vận dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, xem xét sự biến đổi xã hội của người Ma Coong trong mối liên hệ giữa điều kiện tự nhiên, trình độ lực lượng sản xuất và tương quan đồng đại - lịch đại.
  • Phương pháp nghiên cứu thực địa Nhân học:
    • Quan sát trực tiếp và quan sát tham gia: Tác giả trực tiếp lưu trú tại các bản làng người Ma Coong, thực hiện "cùng ăn, cùng ở, cùng làm" để ghi nhận đời sống sinh hoạt, canh tác và hành lễ.
    • Phỏng vấn sâu cá nhân: Phỏng vấn các thành viên dòng họ chủ đất, già làng, trưởng bản, thầy cúng, người cao tuổi, cán bộ xã và chiến sĩ đồn biên phòng Cồn Roàng.
    • Thảo luận nhóm tập trung: Tổ chức thảo luận theo các nhóm đối tượng (người già, trung niên, thanh niên, phụ nữ, cán bộ lãnh đạo) về biến đổi kinh tế - xã hội, quản lý tài nguyên và vai trò chủ đất.
    • Phương pháp chuyên gia và nghiên cứu liên ngành: Trao đổi với các nhà dân tộc học, văn hóa học; xử lý tổng hợp số liệu thống kê.
  • Nguồn tư liệu: Tư liệu điền dã dân tộc học do tác giả trực tiếp thu thập tại xã Thượng Trạch, Tân Trạch (Bố Trạch) và khảo sát so sánh tại xã Nòong Ma (huyện Bua La Pha, Lào); tài liệu thống kê, báo cáo kinh tế - xã hội của Phòng Dân tộc Bố Trạch, UBND các xã nghiên cứu; kết quả luận văn thạc sĩ và các bài báo khoa học đã công bố của tác giả.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Chương này hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến dân tộc Bru-Vân Kiều, nhóm địa phương Ma Coong, thiết chế già làng và chủ đất. Tác giả xác định rõ vị trí của luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên về chủ đất Ma Coong; xây dựng hệ thống khái niệm thao tác; xác lập khung lý thuyết (đặc thù lịch sử, cấu trúc - chức năng, cấu trúc nghi lễ) và quy trình phương pháp luận điền dã dân tộc học phục vụ việc thu thập và phân tích dữ liệu.

Chương 2: Sự hình thành chủ đất và hình thức trao truyền

Chương 2 trình bày tổng quan về địa bàn nghiên cứu, điều kiện tự nhiên, phân bố dân cư, lịch sử hình thành vùng đất, dòng họ chủ đất và phương thức kế thừa chức vị chủ đất.

Huyện Bố Trạch có diện tích khoảng 264.000 ha, địa hình phức tạp gồm nhiều thung lũng đá vôi thuộc quần thể Phong Nha - Kẻ Bàng. Cư dân dân tộc thiểu số tại huyện phân bố tập trung ở vùng sâu, vùng xa, trong đó người Ma Coong cư trú đông nhất tại xã Thượng Trạch.

Đơn vị hành chính / Địa bàn Thành phần dân tộc Số hộ Số nhân khẩu
Xã Thượng Trạch Ma Coong 381 1.888
Trì 15 70
Mường 4 21
Vân Kiều 7 8
Sách 4 8
A Rem 5 6
Người Việt (Kinh) 1 1
Xã Tân Trạch A Rem 34 143
Ma Coong (tập trung tại bản 39) 14 65
Vân Kiều 2 7
Nông trường Việt - Trung Vân Kiều 66 294
Xã Sơn Trạch Vân Kiều 28 138

Về lịch sử vùng đất, theo truyền thuyết dân gian và lời kể của các già làng họ Senl, tổ tiên người Ma Coong di cư từ vùng biên giới Trung Lào / Đường 9 Quảng Trị để tránh các cuộc càn quét của quân Xiêm. Khi đến thung lũng bản Cà Roòng hiện nay, người thủ lĩnh dẫn đầu đã dùng chiếc gậy thần diệt trừ con rắn khổng lồ đào mương hại người (Chi rọa cơ lọ). Chiếc gậy được cắm xuống đất trung tâm bản, bén rễ phát triển thành cây cổ thụ Ƣra ce (cây gậy thiêng, đường kính lớn, ước tính trên 250 năm tuổi), trở thành cột mốc đánh dấu sự tụ cư của cộng đồng. Địa danh Cà Roòng từng trải qua các tên gọi: Chi rọa cơ lọ $\rightarrow$ Cu Roang $\rightarrow$ Tà Roòng $\rightarrow$ Cà Roòng.

Dòng họ khai phá vùng đất là dòng họ Senl. Người đứng đầu dòng họ này được cộng đồng tôn vinh làm chủ xứ (a châu kruông / chủ đất). Quyền kế thừa chức chủ đất thực hiện theo nguyên tắc thế tập phụ hệ nội tộc: truyền từ anh sang em trai; khi hết thế hệ anh em thì chuyển cho con trai trưởng của người anh cả; nếu không có cháu trưởng thì mới truyền lại cho con trai của người chú.

Về văn hóa tộc người:

  • Văn hóa vật chất: Nhà sàn truyền thống kết cấu gỗ, vách nứa đập dập, mái lá cọ. Khi dựng nhà bắt buộc dựng cột thờ ma (cột ma mót) ở góc phía sau bên trái trước tiên; ở đầu hồi mở cửa ma chỉ dùng để đưa người chết đi chôn. Ẩm thực dùng nếp nương, canh rau rừng và món cheo (ớt rừng giã muối hạt). Trang phục nam có hoa văn ô vuông (ralay), trang phục nữ có hoa văn sọc ngang/hình thoi (ra cặt).
  • Vũ trụ quan: Cấu trúc 3 tầng thế giới:
    1. Tầng trên (ma loong): Thần tối cao Giàng pứt lự, cùng thần sao (ma tôn), thần trăng (ƣ xây), thần mặt trời (mắt ma nang), thần sấm sét (cờ rƣm), thần mây (ra mƣn).
    2. Tầng giữa: Từ mặt đất lên đỉnh núi, gồm Giàng hơm, Giàng xi mơ căn, Giàng munl (thần bóng cây/núi), Giàng ớt tăng cuar (thần núi cao), thần muông thú và khu rừng ma.
    3. Tầng dưới: Gồm thần cờ lung đơ, thần rồng nước/cá sấu ngƣớc ngu tru chi roa, thần đất Giàng ớt tăng pƣn cu téc và thần nguông.

Chương 3: Vai trò của chủ đất trong phát triển kinh tế - xã hội ở cộng đồng Ma Coong

Chương này đi sâu phân tích hai chức năng thực tiễn cơ bản của chủ đất:

  1. Vai trò trong phát triển kinh tế và quản lý tài nguyên:

    • Điều hành chuyển đổi từ kinh tế du canh du cư, phát - đốt - chọc - trỉa sang định canh định cư (bắt đầu từ chủ trương năm 1955 của Đảng bộ huyện Bố Trạch).
    • Quản lý đất đai và tài nguyên rừng: Trong thiết chế cổ truyền, đất đai thuộc sở hữu chung của toàn xứ (kruông) dưới quyền cai quản của chủ đất. Người ngoài muốn đến cư trú, làm nương phải mang lễ vật (gà, rượu) đến nhà chủ đất xin phép. Chủ đất quy định khu vực nương rẫy, phân chia đất sản xuất, bảo vệ các khu rừng thiêng (rừng ma, rừng cấm đầu nguồn suối).
    • Quy định luật tục về săn bắt, hái lượm: Quy định phân chia sản vật săn bắn được trong rừng chung; cấm săn bắn thú trong mùa sinh sản và cấm xâm phạm vùng cấm kỵ.
    • Gương mẫu đi đầu trong áp dụng mô hình kinh tế mới: Trồng lúa nước, hoa màu, chăn nuôi gia súc (lợn, bò) và tham gia công tác bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR).
    • Tổ chức các nghi lễ tương trợ nông nghiệp: Cúng cầu mùa, cúng xin đất, cúng mừng lúa mới và duy trì tập quán đổi công, giúp đỡ các hộ hoạn nạn trong bản.
  2. Vai trò trong duy trì ổn định và phát triển xã hội:

    • Trong thiết chế cổ truyền, chủ đất đứng đầu hệ thống trật tự xã hội, thiết lập làng bản, phân định địa giới giữa các bản làng và ban hành luật tục.
    • Xử lý các tranh chấp, vi phạm luật tục về hôn nhân, trộm cắp, phá rừng hoặc xâm phạm đất đai thông qua việc xét xử cùng hội đồng già làng.
    • Trong bối cảnh đương đại: Đóng vai trò là cầu nối quan trọng giữa chính quyền cơ sở (UBND xã, Ban Chỉ huy Đồn Biên phòng Cồn Roàng) với người dân. Tham gia vận động quần chúng chấp hành pháp luật, giải quyết hòa giải mâu thuẫn nội bộ, phối hợp tuần tra giữ gìn an ninh biên giới Việt - Lào và duy trì mối quan hệ hòa hảo với thân tộc Ma Coong bên kia biên giới (huyện Bua La Pha).

Chương 4: Chủ đất với việc duy trì các giá trị văn hóa truyền thống ở cộng đồng Ma Coong

Chương 4 phân tích chức năng chủ tế và bảo tồn di sản văn hóa của chủ đất qua hai sinh hoạt tín ngưỡng lớn nhất của tộc người:

  1. Tổ chức và điều hành lễ hội đập trống (toong rịt chi cơ rơ):
    • Lễ hội diễn ra vào đêm rằm tháng Giêng âm lịch hàng năm tại bản Cà Roòng.
    • Chủ đất là người duy nhất có quyền làm chủ lễ, trực tiếp khấn xin các Giàng phù hộ cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, xua đuổi thú dữ và dịch bệnh.
    • Chủ đất điều hành nghi thức đánh chiếc trống thiêng mở màn lễ hội; khi tiếng trống vỡ tan cũng là thời điểm mọi người được tự do tìm bạn tình, giao duyên trong đêm hội - một nét sinh hoạt văn hóa dân gian mang tính cố kết cộng đồng sâu sắc.
  2. Tổ chức lễ tế trâu (toong la pe chi riếc):
    • Nghi lễ hiến sinh súc vật quy mô toàn xứ để tạ ơn thần linh và giải hạn khi bản làng gặp thiên tai, dịch bệnh lớn. Chủ đất trực tiếp chủ trì các nghi thức cúng tế và phân chia thịt trâu hiến tế cho các bản.
  3. Bảo tồn biểu tượng trống và tri thức dân gian:
    • Trống (chi cơ rơ) không chỉ là nhạc khí mà là biểu tượng thiêng liêng cố kết tộc người Ma Coong. Chủ đất chịu trách nhiệm bảo quản trống thiêng, truyền dạy kỹ thuật làm trống từ da hoẵng/da trâu và thân cây gỗ đặc thù, đồng thời lưu giữ hệ thống lời khấn, thần tích và các kiêng kỵ dân gian của tộc người.

Chương 5: Kết quả và bàn luận

Chương 5 tổng hợp, đúc kết các luận điểm nghiên cứu:

  • Đánh giá bản chất thiết chế chủ đất người Ma Coong: Đây là mô hình thủ lĩnh truyền thống kết hợp giữa quyền lực xã hội và quyền uy tôn giáo, tồn tại dựa trên uy tín cá nhân, dòng họ khai phá và sự đồng thuận của cộng đồng.
  • Bàn luận về tính tương thích và sự phối hợp giữa thiết chế tự quản truyền thống (chủ đất, già làng) với hệ thống quản lý hành chính nhà nước ở vùng biên giới trong việc giữ vững ổn định an ninh trật tự và phòng chống tội phạm qua biên giới.
  • Bàn luận về nguy cơ mai một bản sắc văn hóa dưới tác động của kinh tế thị trường và giao lưu văn hóa; khẳng định vai trò then chốt của chủ đất trong việc bảo tồn lễ hội đập trống.
  • Đề xuất các nhóm giải pháp, kiến nghị nhằm phát huy vai trò người có uy tín trong phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về lý luận và khoa học

  • Luận án là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và chuyên sâu về thiết chế chủ đất trong cộng đồng người Ma Coong ở Việt Nam.
  • Làm sáng tỏ diện mạo văn hóa - lịch sử, cấu trúc thân tộc, vũ trụ quan và thiết chế xã hội truyền thống cũng như đương đại của nhóm địa phương Ma Coong thuộc dân tộc Bru-Vân Kiều.
  • Chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt về vai trò, phương thức kế truyền của chủ xứ Ma Coong (a châu kruông) so với chủ làng/chủ đất ở các nhóm Bru Vân Kiều, Trì, Khùa và các tộc người cận cư trên dãy Trường Sơn - Tây Nguyên.
  • Bổ sung nguồn tư liệu điền dã dân tộc học chuẩn xác cho các ngành Nhân học văn hóa, Dân tộc học và Văn hóa học ở Việt Nam.

Đóng góp về thực tiễn và kiến nghị giải pháp

  • Cung cấp cơ sở khoa học cho các cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách dân tộc (UBND tỉnh Quảng Bình, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng, Phòng Dân tộc huyện Bố Trạch) trong việc xây dựng mô hình quản lý xã hội dựa vào cộng đồng ở vùng biên giới Việt - Lào.
  • Luận án đề xuất các nhóm kiến nghị cụ thể:
    1. Chính sách đối với người có uy tín: Cần có cơ chế đãi ngộ, tôn vinh và cung cấp thông tin thường xuyên cho chủ đất và các già làng để họ phát huy tốt vai trò cầu nối tuyên truyền đường lối, chính sách.
    2. Bảo tồn di sản văn hóa: Hỗ trợ kinh phí và không gian thực hành để dòng họ chủ đất duy trì Lễ hội đập trống truyền thống đúng với bản sắc nguyên gốc, tránh xu hướng thương mại hóa hoặc can thiệp hành chính làm biến dạng nghi lễ.
    3. Phát triển kinh tế gắn với quản lý tài nguyên: Kết hợp luật tục bảo vệ rừng của chủ đất với Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; đẩy mạnh giao đất giao rừng cho cộng đồng thôn bản tự quản lý; hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện thung lũng đá vôi Thượng Trạch và Tân Trạch.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nguồn tư liệu thư tịch lịch sử ghi chép về nhóm người Ma Coong trước năm 1945 còn rất hiếm hoi, việc phục dựng lịch sử di cư và nguồn gốc vùng đất chủ yếu dựa vào truyền thuyết dân gian (Ƣra ce, Chi rọa cơ lọ) và trí nhớ của các nghệ nhân, già làng cao tuổi họ Senl. Tư liệu khảo cứu so sánh bên phía nước bạn Lào (huyện Bua La Pha) mới dừng lại ở khảo sát bước đầu tại hai bản Nòong Ma và Pà Ác do hạn chế về thời gian và điều kiện thực địa.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    1. Tiếp tục sưu tầm và khai thác các nguồn tư liệu thư tịch cổ, văn bia, địa chí để làm sáng tỏ hơn lịch sử thiên di của người Ma Coong trong tương quan với các cuộc biến động quân sự giữa Xiêm - Việt - Lào thế kỷ XVIII - XIX.
    2. Mở rộng nghiên cứu so sánh liên quốc gia một cách toàn diện về thiết chế a châu kruông giữa người Ma Coong ở Quảng Bình (Việt Nam) và người Ma Coong ở tỉnh Khăm Muộn (Lào).
    3. Nghiên cứu sâu hơn về sự biến đổi sinh kế và cơ chế thích ứng văn hóa của người Ma Coong dưới tác động của Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng và các chương trình mục tiêu quốc gia hiện nay.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Luận án là tài liệu tham khảo cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Nhân học, Dân tộc học, Văn hóa học, Lịch sử Việt Nam; cán bộ làm công tác quản lý văn hóa, công tác dân tộc - tôn giáo; cán bộ chính quyền địa phương huyện Bố Trạch và lực lượng Bộ đội Biên phòng đóng quân tại khu vực biên giới.
  • Nội dung giá trị: Các chương nghiên cứu điền dã về nguồn gốc cây gậy thiêng Ƣra ce, phả hệ trao truyền dòng họ chủ đất họ Senl, cấu trúc phân tầng vũ trụ quan 3 tầng, quy trình tổ chức Lễ hội đập trống (toong rịt chi cơ rơ) và tư liệu so sánh dân tộc học giữa các nhóm Bru-Vân Kiều.

Câu hỏi thường gặp

1. Chủ đất của người Ma Coong được gọi bằng những danh xưng nào và có nguồn gốc từ dòng họ nào?

Trong cộng đồng người Ma Coong, chủ đất được gọi bằng các tên: a châu cu téc (chủ đất), a châu kruông (chủ xứ/vùng), a chuôi gieng (ông trời - cách gọi tôn kính của trẻ em và người Ma Coong từ Lào sang), hoặc a chuôi toong gieng (ông cúng trời - cách gọi của người già). Chủ đất thuộc dòng họ Senl (trước Cách mạng tháng Tám gọi là nòi Senl, sau Cách mạng mang họ Đinh) - dòng họ có công đầu tiên tìm ra và khai phá thung lũng bản Cà Roòng.

2. Nguyên tắc trao truyền chức vụ chủ đất người Ma Coong được quy định như thế nào?

Chức vị chủ đất được trao truyền theo nguyên tắc thế tập phụ hệ nội tộc nghiêm ngặt: truyền theo hàng ngang từ anh trai sang em trai ruột; khi thế hệ anh em đã qua đời hết thì chức vị được chuyển xuống cho con trai trưởng của người anh cả (cháu đích tôn); trường hợp người anh cả không có con trai thì chức vị mới được truyền lại cho con trai của người em kế tiếp (chú truyền cho con trai mình).

3. Cây gậy thiêng (Ƣra ce) tại bản Cà Roòng có ý nghĩa gì đối với người Ma Coong?

Theo truyền thuyết Pa tức liêu păn ƣra ce, người thủ lĩnh tổ tiên đã dùng chiếc gậy gỗ được ban để dẫn đường và tiêu diệt con rắn khổng lồ (Chi rọa)