CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG, GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG VÀ CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN KHI BỊ THU HỒI ĐẤT 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG, GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG 1. Giải phóng mặt bằng Giải phóng mặt bằng là quá trình thực hiện các công việc liên quan đến việc di dời nhà cửa, cây cối, các công trình xây dựng và một bộ phận dân cư trên một phần đất nhất định được quy hoạch cho việc cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng một công trình mới.
Quá trình giải phóng mặt bằng được tính từ khi bắt đầu hình thành hội đồng giải phóng mặt bằng đến khi giải phóng xong và giao cho chủ đầu tư mới. Đây là một quá trình đa dạng và phức tạp thể hiện sự khác nhau giữa các dự án và liên quan đến lợi ích trực tiếp của các bên tham gia và cả của xã hội, bao gồm các bước cơ bản: - Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phối hợp với chính quyền địa phương triển khai thực hiện kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm. - Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt lập Phương án bồi thường, hỗ trợ căn cứ trên các quy định pháp luật, tiến hành công khai Phương án, họp dân thông qua Phương án và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án. - Sau khi cấp có thẩm quyền ra Quyết định phê duyệt Phương án và Quyết định thu hồi đất, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng có trách nhiệm chi trả số tiền bồi thường, hỗ trợ theo đúng Quyết định đã phê duyệt cho hộ dân, bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư thực hiện dự án.
Giải phóng mặt bằng mang tính quyết định đến tiến độ của các dự án, là khâu đầu tiên thực hiện dự án. Trong đó bồi thường, hỗ trợ thiệt hại là khâu quan trọng quyết định tiến độ giải phóng mặt bằng. Bồi thường khi giải phóng mặt bằng Bồi thường khi giải phóng mặt bằng bao gồm bồi thường về đất và bồi thường thiệt hại tài sản , ngừng sản xuất, kinh doanh khi nhà nước thu hồi đất Theo Điều 3, Luật đât đai 2013 thì Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất. Theo Khoản 2, Điều 74, Luật đât đai 2013 thì Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.
Theo Điều 88, Luật đât đai 2013 thì Khi Nhà nước thu hồi đất mà chủ sở hữu tài sản hợp pháp gắn liền với đất bị thiệt hại về tài sản thì được bồi thường. Khi Nhà nước thu hồi đất mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải ngừng sản xuất, kinh doanh mà có thiệt hại thì được bồi thường thiệt hại. Chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng Chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng là cơ sở pháp lý, là khuôn mẫu để khi Nhà nước thu hồi đất, các cơ quan thực hiện bồi thường giải phóng mặt bằng căn cứ vào đó để xác định đối tượng được bồi thường, không được bồi thường, tính mức bồi thường, giá bồi thường và các biện pháp hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, hỗ trợ chi phí tháo dỡ di chuyển, chi phí ổn định sản xuất và đời sống của người dân trong vùng di dời … Trên thực tế, các chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng đã được Đảng và Nhà nước quan tâm từ rất sớm, được thể chế hóa bằng các văn bản pháp và liên tục được điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn của từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Những văn bản có nội dung quy định trực tiếp hoặc có liên quan đến vấn đề thu hồi đất, giải phóng mặt bằng gồm rất nhiều loại, với tính chất pháp lý khác nhau, từ văn bản có tính pháp lý cao nhất là Hiến pháp cho đến các bộ luật, các văn bản pháp quy của Chính phủ, các văn bản của các Bộ, Ngành và văn bản do các tỉnh, Thành phố ban hành.
8 Hiện nay, Luật đất đai số 45/2013QH11 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2013 là văn bản pháp lý có tính hướng dẫn chi tiết cao nhất, tiếp đó Chính phủ cũng ban hành các Nghị định như Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ về việc Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai; Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 6/01/2017 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai. Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng có Thông tư hướng dẫn như Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất; Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất. Thu hồi đất 1. Khái niệm Thu hồi đất là biện pháp pháp lý làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai.
Hình thức pháp lý này là một quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giao đất, cho thuê đất. Biện pháp này thể hiện quyền lực nhà nước trong tư cách là người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai. Vì vậy, để thực thi nội dung này, quyền lực nhà nước được thể hiện nhằm đảm bảo lợi ích của Nhà nước, của xã hội đồng thời lặp lại trật tự kỷ cương trong quản lý Nhà nước về đất đai. Thu hồi đất phải được hiểu dưới các khía cạnh sau đây: - Là một quyết định hành chính của người có thẩm quyền nhằm chấm dứt quan hệ sử dụng đất của người sử dụng; - Quyết định hành chính thể hiện quyền lực nhà nước nhằm thực thi nội dung của quản lý nhà nước về đất đai; - Việc thu hồi đất xuất phát từ nhu cầu của Nhà nước và xã hội hoặc là biện pháp chế tài được áp dụng nhằm xử lý các hành vi vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng.
9 Từ đó ta có thể định nghĩa thu hồi đất như sau: Là văn bản hành chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm chấm dứt một quan hệ pháp luật đất đai để phục vụ lợi ích của Nhà nước, của xã hội hoặc xử lý hành chính hành vi vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng đất. Các trường hợp thu hồi đất Thu hồi đất chủ yếu phục vụ các nhu cầu quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, mục đích công cộng và mục tiêu phát triển kinh tế đồng thời mở rộng các khả năng cho phép tồ chức kinh tế tìm kiếm mặt bằng tổ chức sản xuất kinh doanh thông qua việc nhận chuyển nhượng hoặc thuê đất của người sử dụng đất khác mà không nhất thiết phải dùng biện pháp hành chính là thu hồi đất. Việc thu hồi đất cần chia thành 3 trường hợp: thu hồi do nhu cầu của Nhà nước, thu hồi vì các lý do đương nhiên và thu hồi do vi phạm pháp luật đất đai. Thu hồi do nhu cầu Nhà nước.
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhà nước với tư cách là chủ đầu tư lớn nhất có nhiệm vụ xây dựng các cơ sỡ kinh tế, hạ tầng xã hội, sử dụng đất vào mục đích công cộng, lợi ích của cộng đồng, bảo vệ chủ quyền quốc gia cùng với các chủ đầu tư khác có nhu cầu sử dụng đất rất lớn. Trong khi đó, những diện tích Nhà nước có nhu cầu sử dụng lại do những tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang có quyền sử dụng do được giao đất, thuê đất, do nhận chuyển quyền sử dụng đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất. Do vậy, vì lợi ích của xã hội những người đang sử dụng đất phải chấp hành quyết định thu hồi đất của Nhà nước. Các trường hợp đó là: - Nhà nước sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh; - Nhà nước sử dụng đất vào mục đích công cộng, lợi ích quốc gia; - Nhà nước sử dụng đất vào mục tiêu phát triển kinh tế để xây dựng các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao.
Nhà nước thu hồi vì lý do đương nhiên. Các trường hợp này không xuất phát từ nhu cầu của Nhà nước cũng không do việc người sử dụng đất bị mắc lỗi trong quá trình sử dụng mà đơn thuần là các lý do đương nhiên dẫn tới việc Nhà nước thu hồi đất. Đó là các trường hợp: - Tổ chức được Nhà nước giao đất khôn thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà 10 nước hoặc cho thuê đất thu tiền hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất; - Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế; - Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất; - Đất được nhà nước giao, cho thuê có thời hạn mà không được gia hạn khi hết thời hạn sử dụng đất. Thu hồi đất do vi phạm pháp luật đất đai.
Trong quá trình dử dụng đất, người sử dụng do vô ý hoặc cố ý vi phạm pháp luật đất đai. Các vi phạm này là nghiêm trọng và dẫn tới hậu quả pháp lý là Nhà nước thu hồi đất với tính cách là một biện pháp chế tài nhằm tước đi quyền sử dụng đất của người vi phạm.