Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CÔNG CHỨC TRONG CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN 1. Công chức và hoạt động công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện 1. Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện 1. Khái niệm công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện - Công chức: Công chức là một thuật ngữ sử dụng phổ biến ở các nước để chỉ nhóm người đặc biệt làm việc trong các cơ quan nhà nước.
Ở mỗi nước thường có một định nghĩa riêng về công chức. Ở Pháp, công chức là những người sở tự quản, làm công vụ được LV thạc sĩ Quản lý công Nhà nước hoặc cộng đồng lãnh thổ bổ nhiệm vào một công việc thường xuyên trong các công sở hay công sở tự quản, kể cả các bệnh viện. Đối tượng công chức ở Đức khá rộng bao gồm những nhân viên làm việc trong các cơ quan, tổ chức văn hóa, nghệ thuật giáo dục và nghiên cứu khoa học quốc gia, nhân viên công tác trong các doanh nghiệp công ích do Nhà nước quản lý, các nhân viên, quan chức làm việc trong các cơ quan chính phủ, giáo sư đại học, giáo viên trung học, tiểu học, bác sĩ, hộ lý bệnh viện, nhân viên lái xe lửa… [33, tr. Ở Trung Quốc, khái niệm công chức Nhà nước dùng để chỉ những người công tác trong các cơ quan hành chính Nhà nước các cấp, từ nhân viên phục vụ.
Gồm hai loại: Công chức lãnh đạo là những người thừa hành quyền lực hành chính 12 Nhà nước, được bổ nhiệm theo các trình tự luật định, chịu sự điều chỉnh của Hiến pháp, Điều lệ công chức và Luật Tổ chức chính quyền các cấp; và công chức nghiệp vụ, là những người thi hành chế độ thường nhiệm, do cơ quan hành chính các cấp bổ nhiệm và quản lý căn cứ vào Điều lệ công chức, họ chiếm tuyệt đại đa số công chức Nhà nước, chịu trách nhiệm quán triệt, chấp hành chính sách và pháp luật. Tuy mỗi nước có một quy định khác nhau về công chức, nhưng đa số các nước đều quan niệm công chức là một nhóm người đặc biệt làm việc trong các tổ chức thuộc hệ thống thực thi quyền hành pháp. Hệ thống pháp luật của các nước đều dành cho nhóm người này một số quy định đặc biệt. Một số quy định mang tính chất chung của các nước: Là nhóm người lao động cho Nhà nước có tính chất riêng; số lượng người được gọi là công chức khác nhau, có thể phân chia thành công chức trung ương, địa phương, LV thạc sĩ Quản lý công quân sự, dân sự; mọi hoạt động do pháp luật quy định; được bổ nhiệm bởi cơ quan công quyền và khó có thể bị bãi nhiệm do thủ tục.
Ở Việt Nam trong Hiến pháp năm 1946 thuật ngữ "công vụ, công chức" chưa được sử dụng nhưng các quy định của Hiến pháp đã thể hiện một quan điểm mới về công vụ, công chức. Điều 1 Hiến pháp năm 1946 quy định "tất cả quyền binh trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam." với quy định này có thể khẳng định rằng, bộ máy nhà nước, các cơ quan nhà nước, cán bộ công chức nhà nước là những người được nhân dân ủy quyền, giao cho quyền lực và có trách nhiệm phụng sự nhân dân. Trên cơ sở nguyên tắc, quan điểm về công vụ kiểu mới trong Hiến pháp 1946, Bác Hồ đã ký văn bản có tính pháp lý đầu tiên ở nước ta quy định về công chức đó là Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ở Điều 1 Sắc lệnh quy định: “Những 13 công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ngoài nước, đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”.
Theo đó "công chức" được hiểu theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những người được tuyển dụng, giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ. Những người làm việc trong các cơ quan, đơn vị khác của Nhà nước thì không phải là công chức. Sau năm 1954, do nhu cầu bổ sung nguồn lực trong bộ máy Nhà nước ngày càng tăng, nhưng thực tiễn của nước ta lúc đó không có đủ nguồn nhân lực phù hợp với những tiêu chuẩn quy định có thể nói là khá cao đối với công chức quy định tại Quy chế công chức năm 1950 và các văn bản được ban hành vào thời kỳ đó. Về sau, các văn bản pháp luật thường dùng thuật ngữ “cán bộ, viên chức” được dùng phổ biến trong văn LV thạc sĩ Quản lý công bản pháp luật.
Đến tháng 5/1991 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 169-HĐBT ngày 25/5/1991 của Hội đồng Bộ trưởng về công chức nhà nước và quy định tại Điều 1: “Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của nhà nước ở Trung ương hay địa phương; ở trong nước hay ngoài nước; đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách Nhà nước cấp gọi là công chức Nhà nước”. Tại kỳ họp thứ 10, kỳ họp Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức số 01/1998/PL- UBTVQH 10 ngày 26/02/1998. đánh dấu một bước phát triển mới trong quá trình xây dựng pháp luật về cán bộ, công chức ở nước ta. Điều 1 Pháp lệnh quy định: “Cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này là công dân 14 Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước…” Quy định này khẳng định quan điểm và nhận thức mới về đội ngũ cán bộ, công chức trong giai đoạn hiện nay, nhưng vẫn chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa cán bộ với công chức.
Nhằm đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội và sự phát triển của đời sống chính trị, pháp lý của đất nước trong tình hình mới, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 đã thông qua luật cán bộ, công chức vào ngày 13/11/2008 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2010. Tại Điểm 2, Điều 4 luật cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII ngày 13/11/2008 quy định: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở LV thạc sĩ Quản lý công trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Trên cơ sở quy định đã nêu thì tiêu chí để xác định công chức gắn với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh. Những người đủ các tiêu chí chung của cán bộ, công chức mà được tuyển vào làm việc trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã 15 hội, bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thông qua quy chế tuyển dụng (thi tuyển, xét tuyển), bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh thì được xác định là công chức.
Vậy, công chức là những người được tuyển dụng lâu dài, hoạt động của họ gắn với quyền lực công (hoặc quyền hạn hành chính nhất định) được cơ quan có thẩm quyền trao cho và chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. - Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện: Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/05/2014 đã quy định, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện quản lý Nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương LV thạc sĩ Quản lý công và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND huyện và theo quy định của pháp luật, góp phần bảo đảm sự quản lý thống nhất của ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phương. Cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức và công tác của UBND cấp huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh. Vậy, công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện là những người được tuyển dụng lâu dài, hoạt động của họ gắn với quyền hạn hành chính cấp huyện được UBND huyện trao cho và chịu trách nhiệm trước UBND huyện về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
Vị trí, vai trò của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Vai trò của đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện là rất quan trọng, quyết định chất lượng, hiệu quả hoạt động, hiệu lực quản lý Nhà nước của chính quyền cấp huyện, là lực lượng đông đảo và quan trọng trong hệ thống chính trị, là cầu nối giữa Đảng, Chính quyền với nhân dân trong huyện. Công chức các cơ quan chuyên môn là người trực tiếp thực thi chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, là người trực tiếp giải quyết mọi vấn đề với người dân, việc giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đòi hỏi công chức phải có một trình độ, trí tuệ nhất định đễ tránh việc sai lệch tinh thần, nội dung của đường lối, chính sách gây hậu quả nghiêm trọng. Bên cạnh đó cần phải có các tiêu chuẩn khác như phẩm chất đạo đức và bản lĩnh chính trị. Công việc LV thạc sĩ Quản lý công truyền đạt, giải thích và triển khai thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với người dân là một việc khó khăn, phức tạp.