Tổng quan về luận án
Quá trình chuyển dịch từ phương thức quản lý nhà nước (QLNN) truyền thống sang mô hình quản trị công hiện đại (Public Governance) đặt quyền lực công dân và sự tham gia của Nhân dân vào vị trí trung tâm của tiến trình phát triển bền vững. Công trình nghiên cứu của Nghiên cứu sinh Trần Bá Hùng với đề tài "Tham gia của Nhân dân vào hoạt động quản lý nhà nước của chính quyền cấp xã tại Thành phố Hồ Chí Minh" (Chuyên ngành Quản lý công, Mã số: 9 34 04 03, Học viện Hành chính Quốc gia, 2025; Người hướng dẫn: GS. TS Nguyễn Quốc Sửu và TS. Nguyễn Hoàng Anh) đã tiếp cận một vấn đề then chốt trong khoa học hành chính đương đại. Bối cảnh nghiên cứu gắn liền với việc thể chế hóa Điều 28 Hiến pháp năm 2013: "Công dân có quyền tham gia QLNN và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước (CQNN) về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước..." cùng phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát và dân thụ hưởng" theo Văn kiện Đại hội XIII của Đảng.
Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi được nhận diện: Phần lớn các công trình trước đây chỉ tiếp cận sự tham gia từ góc độ chính trị học hoặc luật học (như nghiên cứu thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở của Nguyễn Thị Thanh, 2023; cơ chế quyền lực trực tiếp của Phan Trung Lý & Đặng Xuân Phương, 2017), hoặc tiếp cận hành chính nhưng chỉ dừng lại ở chức năng của UBND (Thái Xuân Sang, 2023) mà chưa đặt trong cấu trúc tổng thể của chính quyền cấp xã (CQCX) bao gồm cả Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND) trong bối cảnh thực hiện chính quyền đô thị không tổ chức HĐND phường.
Hệ thống Câu hỏi nghiên cứu (Research Questions - RQ):
- RQ1: Tại sao Nhân dân phải tham gia vào hoạt động QLNN của CQCX trong điều kiện quản trị địa phương hiện nay?
- RQ2: Thực trạng mức độ tham gia của Nhân dân vào hoạt động QLNN của CQCX tại TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2016–2024 diễn ra như thế nào?
- RQ3: Mức độ và hình thức tham gia của Nhân dân có sự khác biệt mang tính quy luật nào giữa các loại hình đơn vị hành chính (xã, phường, thị trấn) và nhóm ngành nghề?
- RQ4: Những nguyên nhân cốt lõi nào dẫn đến tình trạng "hình thức hóa", hạn chế tính chủ động của Nhân dân trong quản lý công cơ sở?
- RQ5: Cần xây dựng hệ thống giải pháp và khung đo lường nào để nâng cao thực chất mức độ tham gia của người dân tại đô thị đặc biệt TP. Hồ Chí Minh?
Giả thuyết khoa học (Hypothesis - H1): Nếu CQCX xây dựng và thực thi đồng bộ, minh bạch các cơ chế thu hút phù hợp với đặc thù từng loại hình đơn vị hành chính (xã nông thôn, phường đô thị, thị trấn ven đô), kết hợp đảm bảo các điều kiện năng lực và ý thức cộng đồng của người dân, thì mức độ tham gia thực chất của Nhân dân sẽ chuyển dịch từ cấp độ thụ động (tiếp nhận thông tin) sang cấp độ chủ động (đồng kiến tạo và sáng kiến chính sách), tối ưu hóa hiệu lực QLNN cơ sở.
Khung lý thuyết chủ đạo: Luận án tích hợp Lý thuyết Thang bậc tham gia của công dân (Arnstein's Ladder of Citizen Participation, 1969), Lý thuyết Quản trị tốt (Good Governance Theory của UNDP/World Bank), Lý thuyết Hành vi công dân (Civic Voluntarism Model của Verba et al., 1995) và Lý thuyết Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
Phạm vi và quy mô dữ liệu: Không gian khảo cứu trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh tại 8 quận/huyện/thành phố trực thuộc (gồm 23 phường, 12 xã, 5 thị trấn). Mẫu điều tra định lượng chuẩn xác gồm $N_1 = 410$ người dân và $N_2 = 400$ cán bộ, công chức (CBCC) cùng người hoạt động không chuyên trách; 14 cuộc phỏng vấn sâu cá nhân; dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2016–2024 bao quát 2 giai đoạn tổ chức bộ máy: có HĐND phường (2016–2021) và thực hiện mô hình chính quyền đô thị không tổ chức HĐND phường theo Nghị quyết số 131/2020/QH14.
Literature Review và Positioning
Tổng quan nghiên cứu quốc tế và trong nước phản ánh bức tranh phân mảnh nhưng đa dạng về sự tham gia của công dân trong quản trị công:
Dòng nghiên cứu về bản chất và chức năng CQCX: Peter A. Watt (2006) khẳng định tính chính danh của chính quyền cơ sở nằm ở năng lực cung ứng dịch vụ công sát hợp nhu cầu người dân. Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB, 2003) và Ishwor Thapa (2020) phân định rõ vai trò kép của CQĐP: vừa quản lý hành chính đơn phương theo thẩm quyền, vừa đại diện cho tiếng nói cộng đồng. Tại Việt Nam, Trần Công Dũng (2016), Trần Anh Tuấn (2017), Nguyễn Minh Phương (2017) đã phân tích sâu chức năng, nhiệm vụ của CQCX nhưng chủ yếu dưới lăng kính phân định thẩm quyền pháp lý hành chính.
Dòng nghiên cứu về hình thức và mức độ tham gia: Thang bậc tham gia kinh điển 8 bậc của Sherry Arnstein (1969) phân loại từ "phi tham gia" (manipulation, therapy) qua "tham gia hình thức" (informing, consultation, placation) đến "trao quyền thực chất" (partnership, delegated power, citizen control). Jules N. Pretty (1995) và Cevat Tosun (1999) tái cấu trúc các cấp độ này trong bối cảnh phát triển, chỉ ra ranh giới giữa tham gia tự giác, tham gia bị tác động và tham gia bị cưỡng chế. Henry Sanoff (2000) và John Clayton Thomas (1995) nhấn mạnh ranh giới giữa tham gia thực chất và phi thực chất trong quá trình ban hành quyết định công.
Các tranh luận học thuật tiêu biểu:
- Quan điểm 1: Nhóm học giả theo chủ nghĩa quản trị tập trung (như Masuku & Jili, 2019 tại Nam Phi) lập luận rằng tại cấp cơ sở, việc tham gia quá sâu của người dân có thể làm giảm tính chuẩn hóa hành chính, gia tăng chi phí giao dịch và kéo dài thời gian ban hành quyết định do xung đột lợi ích cục bộ.
- Quan điểm 2: Ngược lại, nhóm học giả theo thuyết Dân chủ thảo luận (Deliberative Democracy) như Nancy Roberts (2003, 2004), Cheryl Simrell King et al. (1998) khẳng định sự tham gia trực tiếp là nền tảng triệt tiêu sự tha hóa quyền lực công, gia tăng vốn xã hội (social capital) và sự đồng thuận chính sách.
Đối sánh với các nghiên cứu quốc tế điển hình:
- So với nghiên cứu của Schubert & Ahlers (2012) và Han Li (2023) tại Quảng Châu (Trung Quốc) về bầu cử làng xã và tham vấn quy hoạch đô thị vốn phụ thuộc vào các thể chế phi chính thức (informal institutions), nghiên cứu của Trần Bá Hùng làm rõ bối cảnh thể chế chính trị thống nhất tại Việt Nam, nơi Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội đóng vai trò trung gian then chốt kết nối người dân với CQCX.
- So với nghiên cứu của Tanjil Ahmed & Tamanna Akter (2022) về chính quyền Union Parishads tại Bangladesh – nơi sự tham gia của người dân bị cản trở sâu sắc bởi mù chữ và nghèo đói – nghiên cứu tại TP. Hồ Chí Minh đặt trong bối cảnh một siêu đô thị có trình độ dân trí cao, hạ tầng kinh tế số phát triển nhưng lại đối mặt với rào cản về áp lực thời gian đô thị, tâm lý thờ ơ chính trị và tính hình thức trong quy trình lấy ý kiến.
- So với mô hình tham vấn kỹ thuật số của Julia Romberg et al. (2022) tại Đức, luận án chỉ ra sự thiếu hụt các nền tảng công nghệ chuyên dụng tương tác hai chiều tại cấp xã ở Việt Nam.
[Arnstein (1969): 8 bậc tham gia]
+
[Tosun (1999) & Pretty (1995): Động lực tham gia]
[KHUNG LÝ THUYẾT LUẬN ÁN: Quản lý công cơ sở tại TP.HCM]
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án đã kế thừa và mở rộng thuyết Thang bậc tham gia của công dân (Ladder of Citizen Participation) của Arnstein (1969) và mô hình của Tosun (1999) bằng cách chuẩn hóa thành mô hình 5 cấp độ tham gia phù hợp với thể chế hành chính công Việt Nam:
- Cấp độ 1 (Không tham gia): Người dân hoàn toàn đứng ngoài quy trình QLNN, không tiếp nhận thông tin hoặc cố tình bỏ qua các thông báo của chính quyền.
- Cấp độ 2 (Tiếp nhận thông tin thụ động): Người dân chỉ nhận thông tin một chiều từ CQCX qua loa truyền thanh, niêm yết trụ sở, cổng thông tin điện tử mà không có phản hồi.
- Cấp độ 3 (Đóng góp ý kiến phản hồi): Người dân tham gia phát biểu, gửi phiếu khảo sát khi CQCX chủ động tổ chức lấy ý kiến (tham vấn có giới hạn).
- Cấp độ 4 (Phối hợp thực hiện khi được huy động): Người dân trực tiếp đóng góp tài chính, ngày công, tham gia vào các ban vận động, tổ giám sát khi chính quyền cơ sở phát động phong trào.
- Cấp độ 5 (Chủ động kiến tạo và đồng sáng kiến): Người dân chủ động đề xuất sáng kiến, phản biện độc lập, đồng thiết kế chính sách và tự quản cộng đồng trong khuôn khổ pháp luật.
Sự chuyển dịch mô thức (paradigm shift): Luận án chuyển trọng tâm đánh giá từ "tần suất hành vi" (số lần họp, số lượt dự) sang "chất lượng quyền lực và mức độ ảnh hưởng của ý kiến người dân" trong chu trình chính sách công cơ sở.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích được xây dựng trên sự tích hợp ba chiều không gian:
- Trục chức năng QLNN (3 nội dung cốt lõi): (1) Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; (2) Hướng dẫn, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật; (3) Kiểm tra, giám sát, thanh tra nhân dân và xử lý vi phạm hành chính.
- Trục phương thức thực thi (2 hình thức): Dân chủ trực tiếp (tự biểu quyết, thảo luận trực tiếp tại hội nghị thôn/ấp/tổ dân phố) và Dân chủ gián tiếp (qua HĐND, Mặt trận Tổ quốc, Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư cộng đồng).
- Trục cường độ tham gia (5 cấp độ): Đo lường tính chủ động từ Cấp độ 1 đến Cấp độ 5.
Điều kiện biên (Boundary Conditions): Khung phân tích được xác lập chặt chẽ trong phạm vi đơn vị hành chính cấp xã của đô thị đặc biệt TP. Hồ Chí Minh, nơi chịu sự chi phối của cơ chế quản trị đô thị không có HĐND ở phường và mức độ di biến động dân cư cơ học cao.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
- Triết lý nghiên cứu: Kết hợp chủ nghĩa thực chứng (Positivism) trong việc lượng hóa các mối quan hệ tác động và chủ nghĩa hiện thực phê phán (Critical Realism) nhằm giải mã các cơ chế ngầm định, rào cản thể chế chi phối hành vi của CBCC và người dân.
- Phương pháp hỗn hợp (Mixed Methods Sequential Design): Thiết kế nghiên cứu định lượng kết hợp định tính chặt chẽ. Dữ liệu định lượng từ khảo sát diện rộng đóng vai trò kiểm định thực trạng, dữ liệu định tính từ phỏng vấn sâu và quan sát tham dự đóng vai trò giải thích cơ chế nguyên nhân.
- Thiết kế đa tầng (Multi-level Design):
- Tầng 1: Khách thể quản lý (Người dân thường trú, tạm trú tại các đơn vị cấp xã).
- Tầng 2: Chủ thể quản lý (CBCC cấp xã, cán bộ không chuyên trách, lãnh đạo UBND/HĐND cấp xã).
Quy trình nghiên cứu rigorous
-
Chiến lược chọn mẫu xác suất kết hợp phân tầng:
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu Yamane cho tổng thể hữu hạn với mức ý nghĩa $p = 0.05$:
$$n = \frac{N}{1 + N(e)^2}$$
- Mẫu người dân: Với dân số trên 18 tuổi của TP. Hồ Chí Minh tính đến tháng 12/2022 là $N \approx 6.825.000$ người, sai số cho phép $e = 0.05$, quy mô mẫu lý thuyết là $n = 400$. Tác giả khảo sát thực tế $410$ phiếu hợp lệ phân bổ chuẩn hóa: Phường ($235$ phiếu, chiếm 57.3%), Thị trấn ($52$ phiếu, chiếm 12.7%), Xã nông thôn ($123$ phiếu, chiếm 30.0%).
- Mẫu CBCC và người hoạt động không chuyên trách: Tổng thể $N = 9.870$ người (gồm 3.520 CBCC và 6.350 người hoạt động không chuyên trách), quy mô mẫu lý thuyết $n = 385$. Tác giả khảo sát thực tế $400$ phiếu: Phường ($230$ phiếu), Thị trấn ($50$ phiếu), Xã ($120$ phiếu).
-
Thu thập dữ liệu định tính: Tiến hành 14 cuộc phỏng vấn sâu theo bán cấu trúc (7 CBCC lãnh đạo xã/phường/thị trấn và 7 đại diện người dân thuộc các giai tầng).
-
Quan sát tham dự (Participatory Observation): Thực hiện trực tiếp tại 12 cuộc họp khu phố/ấp, hội nghị tiếp xúc cử tri, kỳ họp Đảng viên diện 213 và các buổi đối thoại trực tiếp của Chủ tịch UBND cấp xã.
-
Độ tin cậy và giá trị đo lường: Kiểm định độ tin cậy thang đo thông qua hệ số tương quan biến - tổng và phân tích độ nhất quán nội tại; dữ liệu thứ cấp được đối chiếu chéo (Triangulation) với Báo cáo PAPI (Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh) qua các năm từ 2016 đến 2023.
Data và phân tích
Toàn bộ dữ liệu định lượng được làm sạch, mã hóa và xử lý bằng phần mềm chuyên dụng (Microsoft Excel và SPSS). Luận án áp dụng thống kê mô tả (Descriptive Statistics), phân tích bảng chéo (Cross-tabulation), kiểm định khác biệt chi-square ($\chi^2$) và phân tích khoảng cách đánh giá giữa hai nhóm khách thể (CBCC vs. Người dân) nhằm xác định mức độ bất đối xứng nhận thức.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
1. Mức độ tham gia chủ yếu dừng lại ở bậc thấp (Cấp độ 2 và Cấp độ 3), thiếu vắng sự chủ động sáng kiến (Cấp độ 5):
Dữ liệu khảo sát thực chứng cho thấy tỷ lệ người dân tham gia đóng góp ý kiến vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất địa phương chỉ đạt mức khiêm tốn: trên 60% người dân được hỏi cho biết chỉ dừng lại ở mức tiếp nhận thông tin hoặc hoàn toàn không biết thông tin quy hoạch. Số liệu Bảng 3.4 và 3.5 chỉ ra sự chênh lệch lớn giữa đánh giá của CBCC và Người dân: trong khi 48.5% CBCC cho rằng người dân có tham gia đóng góp ý kiến xây dựng kế hoạch KT-XH, thì chỉ có 28.3% người dân xác nhận mình thực sự được đóng góp ý kiến một cách thực chất.
2. Nghịch lý tham gia tài chính cao nhưng tham gia giám sát thấp:
Tại Bảng 3.6, tỷ lệ Nhân dân tự nguyện đóng góp tiền của, ngày công xây dựng công trình công cộng tại địa phương đạt tỷ lệ rất cao (trên 68.5% ở khu vực nông thôn và 54.2% ở khu vực đô thị). Tuy nhiên, tỷ lệ người dân trực tiếp tham gia giám sát các công trình đó qua Ban Giám sát đầu tư cộng đồng lại dưới 15%. Điều này chứng minh người dân sẵn sàng "làm" và "đóng góp" nhưng quyền "kiểm tra, giám sát" bị nghẽn do thiếu cơ chế cung cấp thông tin kỹ thuật và dự toán ngân sách.
3. Bất đối xứng nhận thức sâu sắc giữa CBCC và Người dân về "hình thức hóa":
Trích dẫn trực tiếp từ báo cáo đánh giá của Thành ủy TP. Hồ Chí Minh được luận án phân tích: "Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra, có nơi cấp ủy, chính quyền chưa thật sự quan tâm, có nội dung còn hình thức; một số CBCC, viên chức còn quan liêu, thờ ơ, vô cảm, sợ trách nhiệm, ngại tiếp xúc, đối thoại với Nhân dân... công tác phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội ở xã, phường, thị trấn vẫn chưa hiệu quả; việc tiếp thu, giải trình lắng nghe ý kiến Nhân dân có nơi, có nội dung chưa đầy đủ, còn hình thức". Khảo sát định lượng chỉ ra 42.7% người dân được phỏng vấn cho rằng ý kiến của họ đưa ra không được phản hồi hoặc giải trình rõ ràng.
4. Phân hóa rõ rệt theo loại hình đơn vị hành chính:
Mức độ gắn kết và tham gia trực tiếp tại các xã nông thôn (huyện Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh) đạt chỉ số cao hơn đáng kể so với các phường đô thị trung tâm (Quận 1, Quận 3, Quận 10). Nguyên nhân là do thiết chế "làng xóm, dòng họ, ấp" tại nông thôn tạo áp lực xã hội và vốn xã hội cao hơn cấu trúc "căn hộ chung cư, nhà phố khép kín" tại đô thị.
| Lĩnh vực tham gia |
Tỷ lệ Người dân đánh giá thực chất |
Tỷ lệ CBCC đánh giá thực chất |
Mức độ chênh lệch nhận thức |
| Góp ý Quy hoạch / Kế hoạch đất đai |
28.3% |
48.5% |
+20.2% (CBCC đánh giá cao hơn) |
| Đóng góp tài chính / Ngày công |
61.4% |
72.0% |
+10.6% (Đồng thuận mức độ cao) |
| Giám sát đầu tư cộng đồng |
14.8% |
39.5% |
+24.7% (Bất đối xứng nghiêm trọng) |
| Giải quyết khiếu nại, tố cáo cơ sở |
22.1% |
51.2% |
+29.1% (Sai lệch kỳ vọng giải trình) |
Implications đa chiều
- Về mặt học thuật: Cung cấp bộ khung khái niệm chuẩn hóa 5 cấp độ gắn liền với 3 nội dung QLNN cơ sở, lấp đầy khoảng trống lý thuyết quản trị địa phương tại các nước đang phát triển có nền kinh tế chuyển đổi.
- Về mặt phương pháp luận: Thiết lập quy trình đánh giá kết hợp chỉ số định lượng khách quan và cảm nhận chủ quan của hai nhóm đối tượng đối ngẫu (CBCC vs. Nhân dân).
- Về mặt chính sách và thực tiễn:
- Đề xuất lộ trình chuyển đổi số quy trình lấy ý kiến nhân dân thông qua ứng dụng công dân số (như tích hợp VNeID và Cổng dịch vụ công TP. Hồ Chí Minh).
- Xây dựng quy chế bắt buộc về "Trách nhiệm giải trình phản hồi ý kiến" của Chủ tịch UBND cấp xã với thời hạn cụ thể (SLA - Service Level Agreement).
- Khuyến nghị Bộ Nội vụ chuẩn hóa quy trình bầu cử Trưởng ấp/Khu phố và nâng cao thẩm quyền độc lập của Ban Thanh tra nhân dân.
Limitations và Future Research
- Giới hạn về mẫu không gian: Mặc dù mẫu khảo sát 810 phiếu phân bổ trên 8 quận, huyện, TP. Thủ Đức có tính đại diện cao cho TP. Hồ Chí Minh, kết quả có thể có độ vênh nhất định khi khái quát hóa (Generalizability) cho các vùng nông thôn miền núi hoặc các tỉnh có quy mô kinh tế - xã hội khác biệt.
- Giới hạn về thời gian chuỗi: Chưa tiến hành nghiên cứu theo chuỗi thời gian dọc (Longitudinal Study) để đo lường sự biến đổi nhận thức của cùng một nhóm đối tượng trước và sau khi ban hành Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 (có hiệu lực từ 01/7/2023).
- Định hướng nghiên cứu tương lai:
- Ứng dụng mô hình Phương trình cấu trúc bình phương bé nhất từng phần (PLS-SEM) để lượng hóa trọng số tác động của từng biến số (văn hóa hành chính, trình độ học vấn, công nghệ thông tin) đến ý định tham gia của công dân.
- Mở rộng nghiên cứu so sánh đối sánh (Comparative Governance) giữa TP. Hồ Chí Minh, TP. Hà Nội và TP. Đà Nẵng về hiệu quả tham gia của nhân dân trong các mô hình chính quyền đô thị khác nhau.
Tác động và ảnh hưởng
- Tác động học thuật (Academic Impact): Luận án là công trình tiến sĩ Quản lý công đầu tiên khảo sát toàn diện và chuyên sâu về sự tham gia của Nhân dân vào hoạt động của CQCX tại TP. Hồ Chí Minh. Dự kiến cung cấp khung tham chiếu cho hàng chục công trình nghiên cứu sau đại học về quản trị công và khoa học chính sách.
- Ảnh hưởng chính sách (Policy Influence): Đóng góp trực tiếp cơ sở khoa học để Thành ủy và UBND TP. Hồ Chí Minh cụ thể hóa việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 98/2023/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP. Hồ Chí Minh; cung cấp căn cứ để hoàn thiện các chỉ số thành phần trong Chỉ số Cải cách hành chính (PAR Index) và Chỉ số Hài lòng của người dân (SIPAS) cấp quận/huyện và cấp xã.
- Lợi ích xã hội (Societal Benefits): Thúc đẩy minh bạch hóa công quyền, giảm thiểu tình trạng khiếu kiện đất đai kéo dài tại cơ sở, nâng cao mức độ thụ hưởng dịch vụ công và củng cố niềm tin của Nhân dân vào bộ máy hành chính nhà nước.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh & Giới học thuật: Tiếp cận hệ thống dữ liệu khảo sát thực chứng chi tiết, kế thừa khung lý thuyết 5 cấp độ và phương pháp phân tích bất đối xứng nhận thức trong quản trị cơ sở.
- Cán bộ lãnh đạo và CBCC cấp xã: Nhận diện rõ các điểm nghẽn hành chính, nắm bắt quy trình kỹ thuật thu hút người dân tham gia xây dựng kế hoạch và giám sát công trình công cộng.
- Cơ quan hoạch định chính sách cấp Trung ương (Bộ Nội vụ, Ban Dân vận Trung ương): Sử dụng các đề xuất của luận án làm luận cứ sửa đổi, bổ sung các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
- Cộng đồng cư dân đô thị và nông thôn: Được hưởng lợi từ một nền hành chính phục vụ, dân chủ, nơi tiếng nói và quyền lợi hợp pháp của công dân được tôn trọng và giải trình nghiêm túc.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Luận án đã mở rộng Lý thuyết Thang bậc tham gia của Sherry Arnstein (1969) sang thể chế chính trị - hành chính Việt Nam bằng việc thiết lập Thang đo 5 cấp độ tham gia gắn trực tiếp với 3 nội dung QLNN cốt lõi của CQCX (Quy hoạch/Kế hoạch – Tổ chức thực thi – Thanh tra/Giám sát), khắc phục nhược điểm đánh giá chung chung theo tần suất của các nghiên cứu trước đây.
2. Tính đổi mới về phương pháp luận so với các công trình đi trước?
So với các nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh (2023) hay Thái Xuân Sang (2023) vốn chỉ khảo sát đơn tầng hoặc phân tích định tính văn bản, luận án thực hiện thiết kế mẫu đa tầng kép ($N = 810$: 410 người dân và 400 CBCC), kết hợp tam giác hóa dữ liệu qua 14 cuộc phỏng vấn sâu và 12 đợt quan sát tham dự tại cơ sở, cho phép đo lường chính xác khoảng cách nhận thức (Perception Gap) giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý.
3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu thực chứng là gì?
Sự tồn tại của "nghịch lý tham gia tại cơ sở": Người dân có mức độ sẵn sàng đóng góp nguồn lực tài chính và sức lao động rất cao (trên 60%) cho các công trình công cộng, nhưng mức độ tham gia vào khâu kiểm tra, giám sát dự toán và chất lượng công trình lại ở mức rất thấp (dưới 15%), do CQCX chưa thiết lập kênh chia sẻ dữ liệu công khai và minh bạch.
4. Luận án có cung cấp quy trình nhân rộng (Replication Protocol) không?
Có. Luận án đề xuất chi tiết Bộ tiêu chí đo lường sự tham gia của Nhân dân gồm 3 nhóm chỉ số thành phần, bảng câu hỏi chuẩn hóa và thang điểm đánh giá định lượng, có khả năng chuyển giao và áp dụng đồng bộ cho các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trên cả nước.
5. Chương trình nghị sự nghiên cứu 10 năm tới được phác thảo như thế nào?
Tập trung vào: (1) Đánh giá tác động của Trí tuệ nhân tạo (AI) và Nền tảng số công dân đối với sự tham gia chính trị - hành chính cơ sở; (2) Mô hình đồng sản xuất dịch vụ công (Co-production of Public Services) giữa chính quyền phường và cộng đồng cư dân đô thị nén.
Kết luận
-
Tổng hợp 5 đóng góp học thuật và thực tiễn cốt lõi:
- Một là, xây dựng hệ thống cơ sở khoa học đồng bộ về CQCX và sự tham gia của Nhân dân dưới góc độ khoa học Quản lý công hiện đại.
- Hai là, phân định và chuẩn hóa cấu trúc 3 hoạt động QLNN cơ sở gắn liền với quyền tham gia của người dân.
- Ba là, sáng lập Khung đo lường 5 cấp độ tham gia của công dân tại cấp cơ sở.
- Bốn là, công bố bộ dữ liệu thực chứng quy mô lớn phản ánh toàn diện thực trạng tham gia của Nhân dân tại TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2016–2024.
- Năm là, đề xuất Bộ Chỉ số đánh giá định lượng mức độ tham gia của Nhân dân làm công cụ quản trị thực tiễn cho chính quyền địa phương.
-
Nâng tầm mô thức quản trị: Khẳng định sự tham gia của người dân không chỉ là công cụ thực thi dân chủ thuần túy mà là nguồn lực quản trị công sống còn nhằm nâng cao năng lực phục vụ của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
-
Mở ra các dòng nghiên cứu mới: Đặt nền móng cho các nghiên cứu chuyên sâu về Quản trị đô thị số (Digital Urban Governance), Giám sát xã hội bằng dữ liệu mở, và Cơ chế đối thoại công dân đa chiều trong bối cảnh tái cấu trúc đơn vị hành chính tại Việt Nam.