Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý công (mã số: 9 34 04 03) của nghiên cứu sinh Trần Bá Hùng, được thực hiện tại Học viện Hành chính Quốc gia dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. TS Nguyễn Quốc Sửu và TS. Nguyễn Hoàng Anh (năm 2025), nghiên cứu về đề tài: "Tham gia của Nhân dân vào hoạt động quản lý nhà nước của chính quyền cấp xã tại Thành phố Hồ Chí Minh".

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Theo quy định tại Điều 2 và Điều 28 Hiến pháp năm 2013, nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân và quyền tham gia quản lý nhà nước (QLNN) của công dân được xác lập là một quyền chính trị hiến định. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh phương châm: "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát và dân thụ hưởng", đồng thời Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 đặt ra yêu cầu phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Chính quyền cấp xã (CQCX) là cấp chính quyền cơ sở gần dân nhất, trực tiếp triển khai chính sách và cung ứng dịch vụ công. Quá trình chuyển đổi từ QLNN sang quản trị nhà nước đặt nền tảng trên 4 trụ cột: sự tham gia (participation), trách nhiệm giải trình (accountability), sự minh bạch (transparency) và trách nhiệm của Nhà nước (state responsibility). Tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) – trung tâm kinh tế - xã hội lớn đang thực hiện mô hình chính quyền đô thị và các cơ chế đặc thù theo Nghị quyết số 54/2017/QH14 – việc huy động người dân tham gia QLNN cấp xã còn bộc lộ nhiều hạn chế: tính chủ động của người dân chưa cao; hình thức tham gia còn mang tính hình thức; một bộ phận cán bộ, công chức (CBCC) còn tình trạng quan liêu, né tránh đối thoại; việc giải quyết khiếu nại đất đai chậm; công tác phản biện xã hội và giải trình chưa thực chất. Khoảng trống nghiên cứu được xác định là: chưa có công trình luận án tiến sĩ ngành Quản lý công nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện từ khung lý thuyết đến khảo sát định lượng thực chứng về các nội dung và cấp độ tham gia của người dân vào hoạt động QLNN của CQCX trên địa bàn TP.HCM.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu là làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm đề xuất hệ thống giải pháp tăng cường sự tham gia của Nhân dân vào hoạt động QLNN của CQCX tại TP.HCM trong giai đoạn tiếp theo.

Nhiệm vụ nghiên cứu gồm 5 nội dung:

  1. Khảo cứu các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến CQCX và sự tham gia của Nhân dân vào hoạt động QLNN của CQCX.
  2. Hệ thống hóa và luận giải cơ sở khoa học về sự tham gia của Nhân dân vào hoạt động QLNN của CQCX (nội dung, hình thức, mức độ, điều kiện đảm bảo, yếu tố ảnh hưởng).
  3. Phân tích kinh nghiệm quốc tế về tăng cường sự tham gia của người dân vào hoạt động QLNN của chính quyền địa phương, rút ra bài học gợi mở cho Việt Nam.
  4. Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng tham gia của Nhân dân vào hoạt động QLNN của CQCX tại TP.HCM giai đoạn 2016–2024; làm rõ nguyên nhân của kết quả đạt được và hạn chế.
  5. Xác định quan điểm và đề xuất hệ thống giải pháp nhằm tăng cường sự tham gia của Nhân dân vào hoạt động QLNN của CQCX tại TP.HCM.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học

Luận án giải quyết 5 câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi 1: Tại sao Nhân dân phải tham gia vào hoạt động QLNN của CQCX?
  • Câu hỏi 2: Việc tham gia của Nhân dân vào hoạt động QLNN của CQCX tại TP.HCM từ năm 2016 đến năm 2024 đang ở mức độ nào?
  • Câu hỏi 3: Tham gia của Nhân dân vào hoạt động QLNN của CQCX tại TP.HCM giữa các xã, phường, thị trấn có giống nhau không?
  • Câu hỏi 4: Tại sao tham gia của Nhân dân vào hoạt động QLNN của CQCX tại TP.HCM còn hạn chế?
  • Câu hỏi 5: Cần làm gì để tăng cường tham gia của Nhân dân vào hoạt động QLNN của CQCX tại TP.HCM?

Giả thuyết khoa học: Nếu CQCX xây dựng, triển khai hiệu quả các biện pháp thu hút Nhân dân tham gia vào hoạt động QLNN, kết hợp với sự chủ động và bảo đảm các điều kiện của Nhân dân thì tính thực chất và hiệu quả tham gia của Nhân dân vào hoạt động QLNN của CQCX trên địa bàn TP.HCM ngày càng nâng lên, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội, hoạt động QLNN của CQCX và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của Nhân dân.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tham gia của Nhân dân vào hoạt động QLNN của CQCX tại TP.HCM.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn TP.HCM (gồm 8 quận, huyện, thành phố Thủ Đức với các xã, phường, thị trấn được chọn khảo sát).
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2016–2024 (bao gồm 2 giai đoạn tổ chức CQCX: 2016–2021 tổ chức đầy đủ HĐND và UBND ở cấp xã/phường; từ năm 2021 đến nay không tổ chức HĐND tại các phường theo mô hình chính quyền đô thị; gắn với cơ chế đặc thù theo Nghị quyết số 54/2017/QH14).
  • Phạm vi nội dung:
    • 3 nội dung tham gia: (1) Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; (2) Hướng dẫn và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, quy hoạch, kế hoạch; (3) Kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm.
    • 2 hình thức tham gia: Trực tiếp và gián tiếp.
    • 5 mức độ tham gia: (1) Không tham gia; (2) Chỉ tiếp nhận thông tin thu hút của CQCX; (3) Đóng góp ý kiến khi CQCX lấy ý kiến hoặc khảo sát; (4) Tham gia tổ chức thực hiện cùng CQCX khi được huy động; (5) Chủ động đề xuất ý kiến/sáng kiến, tích cực, sáng tạo tham gia.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu chính đã được điểm luận

Luận án tiến hành tổng quan tài liệu theo các nhóm chủ đề trong nước và quốc tế:

  1. Nghiên cứu về chính quyền địa phương và chính quyền cấp xã:

    • Tác giả quốc tế: Báo cáo của ADB (2003) phân tích cơ cấu tổ chức chính quyền cấp dưới và sự khác biệt giữa nông thôn - thành thị; McKinlay Douglas Limited (2006) tiếp cận cấu trúc và vai trò đại diện cộng đồng của chính quyền địa phương; Daniel Adetoritse Tonwe (2011) phân tích khái niệm chính quyền địa phương từ góc độ đa chiều; Ishwor Thapa (2020) phân tích các chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp, quản trị; Peter A. Watt (2006) phân tích chức năng cung ứng dịch vụ công; Haris Alibašić (2018), Călin Emilian Hințea, Marius Constantin Profiroiu & Tudor Cristian Țiclău nghiên cứu công tác lập kế hoạch chiến lược; Mfundo Mandla Masuku & Nokukhanya Noqiniselo Jili (2019) nghiên cứu cung ứng dịch vụ công tại Nam Phi; Stanisław Bułajewski (2020) nghiên cứu cơ quan giám sát cấp xã.
    • Tác giả trong nước: Nguyễn Thị Phương (2015), Nguyễn Minh Phương (2017), Nguyễn Thị Tuyết Mai (2015) nghiên cứu vai trò của chính quyền xã đối với quản lý phát triển xã hội; Đề tài cấp nhà nước của Võ Khánh Vinh (2015) về hệ thống chính trị cơ sở Tây Nguyên; Nguyễn Trọng Hải (2016), Trần Công Dũng (2016), Trần Anh Tuấn (2017) tiếp cận tổ chức bộ máy và thẩm quyền của CQCX theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015; Đặng Thành Lê & Nguyễn Thị Hường (2022) về đổi mới phương thức hoạt động của chính quyền xã, thị trấn; Thái Xuân Sang (2023) về tiêu chí đánh giá hiệu quả QLNN của UBND xã; Dương Bạch Long (2011) về tổ chức điều hành của UBND cấp xã.
  2. Nghiên cứu về sự tham gia của Nhân dân vào quản lý nhà nước:

    • Về lý thuyết và hình thức tham gia: Rifkin & Kangere (2002) phân tích khái niệm tham gia; Sisk & Julie Ballington (2001) về dân chủ địa phương; Nancy Roberts (2003, 2004) phân biệt sự tham gia trực tiếp và gián tiếp; Amanda Moore McBride et al. phân chia tham gia xã hội và tham gia chính trị; Virginia Beramendi et al. (2014) về dân chủ trực tiếp; Quick & John M. Bryson (2016) về các lý thuyết tham gia quản trị; Ying Duan et al. (2021) về dân chủ hiệp thương cơ sở tại Trung Quốc; Zhestyannikov (2024) về sự tham gia tại các thị trấn nhỏ ở Nga.
    • Về các hoạt động tham gia chuyên biệt: Jamie P. Horsley (2009), Han Li (2023), Marten Borchers et al. (2023), Julia Romberg et al. (2022) nghiên cứu sự tham gia vào quy hoạch đô thị và giao thông qua ứng dụng di động; Benxiang Zeng (2014) nghiên cứu sự tham gia chính trị của phụ nữ; Banty Yadav (2024) về tham gia ra quyết định công; Lisa Beutelspacher et al. (2022) về tham gia qua ứng dụng di động tại Đức; Mingsong Hao & Xiwang Ke (2024) về mạng lưới cá nhân và bầu cử cơ sở.
    • Về thang đo và mức độ tham gia: Sherry R. Arnstein (1969) với thang đo 8 bậc tham gia chia thành 3 nhóm (không tham gia, tham gia hình thức, quyền lực công dân); Stephen Bass, Barry Dalal-Clayton, Jules N Pretty (1995); Cevat Tosun (1999) với 3 mức độ (tự giác, bị cảm hóa, bị cưỡng chế); Henry Sanoff (2000) phân biệt tham gia thực chất và không thực chất; David Chavis & Abraham Wandersman (1990) về ý thức cộng đồng; John Clayton Thomas (1995), Cheryl Simrell King et al. (1998), Gunter Schubert & Anna L. Ahlers (2012), Tanjil Ahmed & Tamanna Akter (2022).
    • Nghiên cứu trong nước về dân chủ và sự tham gia: Dương Quang Tung (2007), Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao & Lã Khánh Tùng (2011), Nguyễn Thị Thanh (2023) về thực hiện dân chủ ở xã tại Hà Nội; Phạm Thị Giang (2022) về chính quyền địa phương tự quản; Nguyễn Hữu Hải & Trịnh Thị Thủy (2018), Nguyễn Văn Cương (2017), Thiều Thị Thu Hương (2020), Roland Fritz & Vũ Hoài Đức (2021), Trần Thị Hương Huế (2020), Mai Văn Thắng (2012, 2016, 2018), Phan Trung Lý & Đặng Xuân Phương (2017), Lê Văn Hòa (2020), Bùi Ngọc Hiền, Phan Công Tam et al. (2018), Ngô Thị Liên (2018).
    • Nghiên cứu trên địa bàn TP.HCM: Ngô Hoài Sơn (2020) về tham gia thực hiện chính sách biến đổi khí hậu; Đặng Thị Kim Quyên (2020) về xây dựng đô thị thông minh; Lương Thị Thu Hương (2022) về tham gia quy trình ngân sách; Phạm Thị Tuyết Minh (2024) về tham gia trong bối cảnh thực hiện cơ chế đặc thù và chính quyền đô thị.

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết

  1. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tách rời giữa nghiên cứu về CQCX (dưới góc độ luật học, tổ chức bộ máy) và nghiên cứu sự tham gia của người dân (dưới góc độ chính trị học, quy chế dân chủ cơ sở), thiếu sự kết nối dưới lăng kính chuyên ngành Quản lý công.
  2. Thiếu khung lý thuyết chuẩn hóa về các mức độ tham gia gắn cụ thể với từng chức năng, hoạt động QLNN của CQCX; phần lớn các nghiên cứu trước chỉ đánh giá theo tần suất hoặc phân loại nhị phân (tham gia/không tham gia).
  3. Chưa có công trình nào đánh giá thực trạng định lượng toàn diện trên cả 3 loại hình đơn vị hành chính cấp cơ sở (xã nông thôn, phường đô thị, thị trấn) tại TP.HCM trong bối cảnh thí điểm không tổ chức HĐND phường và triển khai Nghị quyết 54/2017/QH14.
  4. Chưa xây dựng được Bộ chỉ số đo lường định lượng mức độ tham gia của người dân phục vụ công tác quản lý thực tiễn tại CQCX.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung phân tích

  • Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin; Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và chính quyền cơ sở; Quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và quy định pháp luật của Nhà nước về dân chủ cơ sở.
  • Các lý thuyết tiếp cận:
    • Lý thuyết Quyền con người: Khẳng định quyền tham gia quản lý việc nước và việc xã hội là quyền tự nhiên và chính trị cơ bản của công dân.
    • Lý thuyết Quản trị tốt (Good Governance): Nhấn mạnh tính tương tác đa chiều giữa Nhà nước và công dân dựa trên 4 trụ cột (sự tham gia, minh bạch, trách nhiệm giải trình, pháp quyền).
    • Lý thuyết Nhà nước pháp quyền XHCN: Quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, Nhà nước phục vụ và chịu sự giám sát của Nhân dân.
  • Khung phân tích hoạt động QLNN cấp xã: Phân định thành 4 hoạt động quản lý (xây dựng văn bản QPPL; xây dựng quy hoạch/kế hoạch phát triển KT-XH; hướng dẫn và tổ chức thực hiện; kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm) và xác lập 3 nội dung tham gia tương ứng cùng thang đo 5 mức độ tham gia.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  1. Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: Phân tích hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo hành chính của TP.HCM, dữ liệu Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI), bài báo khoa học từ Google Scholar và Cơ sở dữ liệu Quốc gia về KH&CN.
  2. Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi (Bảng hỏi cấu trúc):
    • Mẫu khảo sát Nhân dân: Áp dụng công thức tính mẫu phi xác suất với sai số biên $e = 0{,}05$ trên quy mô tổng thể $N = 6.052.000$ dân số từ 18 tuổi trở lên tại TP.HCM (tính đến tháng 12/2022). Kích thước mẫu khảo sát thực tế là 410 phiếu (trong đó: 235 phiếu tại phường, 52 phiếu tại thị trấn, 123 phiếu tại xã).
    • Mẫu khảo sát CBCC và người hoạt động không chuyên trách cấp xã: Áp dụng công thức tính mẫu với $e = 0{,}05$ trên tổng thể $N = 9.052$ người (gồm 3.000 CBCC và 6.052 người hoạt động không chuyên trách). Kích thước mẫu khảo sát thực tế là 400 phiếu (trong đó: 230 phiếu tại phường, 50 phiếu tại thị trấn, 120 phiếu tại xã).
    • Địa bàn khảo sát: Thực hiện tại 8 quận, huyện và thành phố Thủ Đức, bao gồm 12 xã, 5 thị trấn và 23 phường.
    • Thời gian và kỹ thuật: Phát phiếu trực tiếp trong các năm 2022, 2023 và 2024; dữ liệu được tổng hợp và xử lý trên phần mềm Microsoft Excel.
  3. Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn 14 đối tượng (gồm 07 CBCC/người hoạt động không chuyên trách đại diện các xã, phường, thị trấn và 07 người dân), tập trung phân tích sự khác biệt về cơ chế thu hút và mức độ tham gia khi phường tổ chức hoặc không tổ chức HĐND.
  4. Phương pháp quan sát: Trực tiếp tham dự và quan sát các cuộc họp khu phố/ấp, hội nghị tiếp xúc cử tri, cuộc họp chi bộ theo Quy định 213 và các buổi đối thoại trực tiếp giữa chính quyền với Nhân dân.
  5. Phương pháp so sánh: So sánh dữ liệu định lượng giữa các năm trong giai đoạn 2016–2024, so sánh chéo giữa 3 loại đơn vị hành chính (xã nông thôn, phường đô thị, thị trấn) và giữa các nhóm nghề nghiệp.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo 2 trục lớn: các công trình về CQCX và các công trình về sự tham gia của người dân vào QLNN. Luận án phân tích sự phát triển của các lý thuyết tham gia từ thang đo bậc thang của Arnstein, các mô hình tham vấn đến các nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin trong quản trị hiện đại. Tác giả chỉ ra 7 nhóm vấn đề còn tranh luận hoặc bỏ ngỏ trong y văn học thuật, đồng thời xác lập vị trí nghiên cứu độc lập của luận án: tiếp cận sự tham gia từ ngành Quản lý công, kết nối trực tiếp với 4 hoạt động chức năng của CQCX và kiểm chứng thực nghiệm tại địa bàn đặc thù TP.HCM.

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THAM GIA CỦA NHÂN DÂN VÀO HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ

Chương 2 làm rõ các khái niệm nền tảng:

  • Chính quyền cấp xã: Là hệ thống các CQNN ở xã, phường, thị trấn được thành lập để thực hiện hoạt động quản lý các lĩnh vực đời sống xã hội trên địa bàn cấp xã. CQCX có 3 đặc điểm cơ bản: là cơ quan gần dân nhất; thường xuyên giải quyết các công việc sự vụ trực tiếp; có cơ cấu tổ chức gọn nhẹ theo chế độ chuyên viên, không phân chia phòng ban chuyên môn.
  • Khái niệm tham gia: Luận án định nghĩa tham gia của Nhân dân vào hoạt động QLNN của CQCX là việc người dân trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện các quyền chính trị, hành chính để đóng góp ý kiến, quyết định, tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát đối với các hoạt động QLNN của CQCX.
  • Khung 5 cấp độ tham gia:
    1. Cấp độ 1 (Không tham gia): Người dân hoàn toàn thụ động, không nắm bắt thông tin và không có bất kỳ hành vi tương tác nào.
    2. Cấp độ 2 (Tiếp nhận thông tin): Người dân thụ động tiếp nhận thông tin, văn bản, thông báo do chính quyền công khai.
    3. Cấp độ 3 (Đóng góp ý kiến): Người dân phản hồi, góp ý khi CQCX chủ động tổ chức lấy ý kiến, họp dân hoặc điều tra khảo sát.
    4. Cấp độ 4 (Cùng thực hiện): Người dân trực tiếp tham gia đóng góp công sức, kinh phí, tổ chức thực hiện các phong trào, công trình công cộng khi được chính quyền vận động.
    5. Cấp độ 5 (Chủ động sáng tạo): Người dân chủ động đề xuất sáng kiến, giải pháp quản lý, tự quản cộng đồng và chủ động thực hiện quyền giám sát.
  • Kinh nghiệm quốc tế: Luận án phân tích mô hình quản trị địa phương có sự tham gia tại Trung Quốc (dân chủ hiệp thương cơ sở, bầu cử thôn bản), CHLB Đức (tham vấn quy hoạch qua nền tảng trực tuyến), Hàn Quốc (truyền thông đa kênh), Nam Phi và Bangladesh, từ đó rút ra các bài học về hoàn thiện khung khổ pháp lý, công khai minh bạch và ứng dụng công nghệ thông tin.

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG THAM GIA CỦA NHÂN DÂN VÀO HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chương 3 trình bày bức tranh tổng quan về hệ thống CQCX tại TP.HCM (gồm xã, phường, thị trấn; sự biến động khi chuyển giao giữa mô hình có HĐND phường sang không tổ chức HĐND phường từ năm 2021). Thực trạng tham gia được phân tích chi tiết qua 3 nội dung trọng tâm cùng 12 bảng thống kê định lượng:

Số hiệu bảng Tên bảng số liệu trong luận án Vị trí trang Nội dung và phát hiện chính
Bảng 3.1 Thống kê số lượng xã, phường, thị trấn trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh 87 Khái quát quy mô phân bố đơn vị hành chính cấp cơ sở trên toàn địa bàn nghiên cứu.
Bảng 3.2 Tỷ lệ người dân tham gia đóng góp ý kiến cho quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất địa phương 94 Phản ánh tỷ lệ còn thấp của người dân trong việc tiếp cận và góp ý đồ án quy hoạch đất đai.
Bảng 3.3 Tỷ lệ người dân tham gia quyết định vấn đề ở địa phương 95 Đo lường mức độ người dân trực tiếp bàn và biểu quyết các vấn đề dân sinh tại cộng đồng.
Bảng 3.4 Tỷ lệ mức độ tham gia của Nhân dân vào xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 96 Đánh giá của người dân; phần lớn dừng lại ở cấp độ 2 (tiếp nhận thông tin) và cấp độ 3 (góp ý khi hỏi).
Bảng 3.5 Đánh giá của CBCC và những người hoạt động không chuyên trách về tỷ lệ mức độ tham gia của Nhân dân vào xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 98 CBCC ghi nhận sự tham gia chủ yếu mang tính bị động, tỷ lệ chủ động đề xuất sáng kiến (cấp độ 5) rất thấp.
Bảng 3.6 Tỷ lệ Nhân dân đã đóng góp tự nguyện cho một công trình công cộng ở xã/phường nơi sinh sống (%) 105 Tỷ lệ đóng góp kinh phí, ngày công làm đường, nâng cấp hẻm tại các xã và thị trấn cao hơn khu vực phường.
Bảng 3.7 Đánh giá của người dân về tỷ lệ cấp độ tham gia vào công tác tuyên truyền, phổ biến và tổ chức thực hiện pháp luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch (%) 106 Người dân tham gia nhiều nhất ở hoạt động phối hợp thực hiện khi được tổ dân phố/khu phố/ấp vận động (cấp độ 4).
Bảng 3.8 Đánh giá của CBCC về tỷ lệ cấp độ tham gia vào công tác hướng dẫn và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, quy hoạch, kế hoạch 108 Đối chiếu đánh giá của chính quyền cơ sở về hiệu quả huy động nguồn lực xã hội hóa từ Nhân dân.
Bảng 3.9 Số cuộc giám sát của Ban Thanh tra nhân dân và Ban Giám sát đầu tư cộng đồng các xã, phường, thị trấn 112 Thống kê định lượng hoạt động giám sát cộng đồng; số cuộc giám sát có sự chênh lệch lớn giữa các địa bàn.
Bảng 3.10 Tỷ lệ người dân thực hiện khuyến nghị, tố giác, tố cáo, khiếu nại 115 Tỷ lệ người dân sử dụng kênh khiếu nại, tố giác vi phạm trật tự đô thị, xây dựng và môi trường.
Bảng 3.11 Đánh giá của Nhân dân về cấp độ tham gia vào công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm hành chính 116 Mức độ tham gia giám sát chủ yếu thông qua tiếp nhận thông tin xử lý và phản ánh sự vụ phát sinh.
Bảng 3.12 Đánh giá của CBCC và những người hoạt động không chuyên trách về cấp độ tham gia vào công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm hành chính 117 CBCC đánh giá hoạt động kiểm tra, giám sát của người dân còn e dè, ngại va chạm, tính chủ động chưa cao.

Đánh giá thực trạng:

  • Ưu điểm: CQCX tại TP.HCM đã chủ động đa dạng hóa các kênh thông tin tuyên truyền, tăng cường tiếp xúc đối thoại, huy động tốt nguồn lực nhân dân trong chỉnh trang đô thị, làm đường giao thông nông thôn và các công trình dân sinh.
  • Hạn chế: Sự tham gia phân bố không đồng đều; người dân chủ yếu dừng lại ở cấp độ 2 và 3, tỷ lệ đạt cấp độ 5 (chủ động đề xuất sáng kiến) còn rất thấp. Tại các phường không tổ chức HĐND, việc tiếp nhận và xử lý phản ánh của người dân qua các kênh đại diện đòi hỏi nỗ lực giải trình cao hơn từ phía UBND.

CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THAM GIA CỦA NHÂN DÂN VÀO HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chương 4 xác định hệ thống quan điểm chỉ đạo gắn với tiến trình xây dựng chính quyền đô thị và chuyển đổi số, đồng thời đề xuất 8 nhóm giải pháp đồng bộ:

  1. Hoàn thiện và cụ thể hóa các quy định pháp luật: Quy định rõ quy trình, chế tài, thời hạn lấy ý kiến và trách nhiệm giải trình của CQCX khi tiếp nhận phản ánh của Nhân dân.
  2. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của đội ngũ CBCC cấp xã: Đổi mới tư duy từ "quản lý hành chính" sang "phục vụ và kiến tạo", khắc phục tâm lý ngại tiếp xúc, né tránh đối thoại với dân.
  3. Đẩy mạnh công khai, minh bạch và thực hiện trách nhiệm giải trình: Công khai đầy đủ quy hoạch, dự toán ngân sách, thủ tục hành chính; tổ chức đối thoại định kỳ thực chất.
  4. Tổ chức thu hút người dân gắn với đặc thù từng loại đơn vị hành chính: Phân hóa giải pháp giữa phường (tập trung vào trật tự đô thị, quy hoạch xây dựng, dịch vụ số), xã (phát triển nông thôn mới, quản lý đất đai nông nghiệp) và thị trấn (thương mại dịch vụ).
  5. Bảo đảm các điều kiện cần thiết cho người dân tham gia: Hỗ trợ kinh phí hoạt động cho Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư cộng đồng; bảo vệ quyền lợi người tố giác.
  6. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT): Phát triển các ứng dụng di động tiếp nhận phản ánh hiện trường, cổng thông tin điện tử cấp xã, số hóa quy trình lấy ý kiến nhân dân.
  7. Xây dựng Bộ chỉ số đo lường và đánh giá mức độ tham gia của Nhân dân: Thiết lập bộ công cụ định lượng đánh giá định kỳ kết quả huy động sự tham gia của người dân tại từng xã, phường, thị trấn.
  8. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và ban điều hành ấp/khu phố: Tăng cường giám sát, phản biện xã hội và làm cầu nối tập hợp nguyện vọng nhân dân.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học

  1. Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu về sự tham gia của Nhân dân vào hoạt động QLNN của CQCX dưới góc độ chuyên ngành Quản lý công.
  2. Khái quát hóa và phân định 4 hoạt động QLNN chủ yếu của CQCX (ban hành văn bản QPPL; lập quy hoạch/kế hoạch; hướng dẫn và tổ chức thực hiện; kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm) dựa trên các chức năng quản lý ngành, lĩnh vực tại cơ sở.
  3. Hệ thống hóa và xác định 3 nội dung tham gia tương ứng của Nhân dân, đồng thời thiết lập khung lý thuyết chuẩn hóa về 5 cấp độ tham gia (từ không tham gia đến chủ động đề xuất sáng kiến), khắc phục hạn chế của các cách tiếp cận đơn thuần theo tần suất trước đây.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng định lượng toàn diện thông qua khảo sát 410 người dân và 400 CBCC/người hoạt động không chuyên trách trên địa bàn 8 quận, huyện, thành phố Thủ Đức thuộc TP.HCM giai đoạn 2016–2024.
  2. Làm rõ sự khác biệt trong phương thức và mức độ tham gia của người dân giữa các loại hình đơn vị hành chính (xã, phường, thị trấn) và giữa hai giai đoạn tổ chức chính quyền (có HĐND phường và không tổ chức HĐND phường).
  3. Đề xuất Bộ chỉ số đo lường và đánh giá mức độ tham gia của Nhân dân vào hoạt động QLNN của CQCX tại TP.HCM, cung cấp công cụ định lượng phục vụ công tác đánh giá thực tiễn của chính quyền thành phố và làm tài liệu tham khảo cho Bộ Nội vụ khi xây dựng chỉ số đánh giá trên phạm vi toàn quốc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Phạm vi khảo sát thực địa được giới hạn tại 8 quận, huyện, thành phố Thủ Đức trên địa bàn TP.HCM; chưa bao quát toàn bộ 100% các đơn vị hành chính cấp xã của Thành phố.
    • Mẫu định tính phỏng vấn sâu dừng lại ở quy mô 14 cá nhân (07 CBCC và 07 người dân) do giới hạn về nguồn lực và thời gian nghiên cứu.
    • Dữ liệu nghiên cứu phản ánh giai đoạn 2016–2024, trong bối cảnh các quy định về chính quyền đô thị và chuyển đổi số đang tiếp tục được cập nhật, hoàn thiện.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng phạm vi và quy mô khảo sát so sánh giữa TP.HCM với các đô thị trực thuộc Trung ương khác (như Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ).
    • Kiểm chứng và hoàn thiện cấu trúc trọng số của Bộ chỉ số đánh giá mức độ tham gia trong điều kiện chuyển đổi số hoàn toàn các dịch vụ hành chính công.

Giá trị tham khảo

  1. Đối với cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách:
    • Cung cấp luận cứ thực tiễn cho UBND TP.HCM, Sở Nội vụ và Ban Dân vận Thành ủy trong việc chỉ đạo nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ ở cơ sở và đánh giá chất lượng phục vụ của CQCX.
    • Là tài liệu tham khảo cho Bộ Nội vụ trong quá trình nghiên cứu, xây dựng các tiêu chí đánh giá mức độ tham gia của người dân cấp cơ sở trên phạm vi cả nước.
  2. Đối với chính quyền cơ sở (xã, phường, thị trấn):
    • Cung cấp các mô hình, quy trình tổ chức đối thoại, lấy ý kiến quy hoạch và phương thức thu hút người dân tham gia qua nền tảng công nghệ số phù hợp với từng loại hình đơn vị hành chính.
  3. Đối với nghiên cứu sinh, giảng viên và các cơ sở đào tạo:
    • Bổ sung khung phân tích lý thuyết chuyên ngành Quản lý công về sự tham gia của công dân và quản trị địa phương; cung cấp nguồn tài liệu tham khảo cho các học phần Quản trị công, Khoa học hành chính và Quản lý nhà nước ở địa phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân chia mức độ tham gia của Nhân dân vào hoạt động QLNN của CQCX thành những cấp độ nào?

Luận án xác lập khung lý thuyết gồm 5 cấp độ tham gia:

  • Cấp độ 1: Không tham gia (người dân hoàn toàn thụ động, không tiếp nhận thông tin).
  • Cấp độ 2: Chỉ tiếp nhận các thông tin thu hút do CQCX công khai, thông báo.
  • Cấp độ 3: Đóng góp ý kiến khi CQCX chủ động tổ chức lấy ý kiến, khảo sát hoặc họp dân.
  • Cấp độ 4: Tham gia tổ chức thực hiện các hoạt động, phong trào, công trình cùng với CQCX khi được huy động.
  • Cấp độ 5: Chủ động đề xuất ý kiến/sáng kiến, tích cực và sáng tạo trong các hoạt động QLNN và tự quản cộng đồng.

2. Quy mô mẫu và phương pháp thu thập dữ liệu định lượng của luận án được thực hiện như thế nào?

Luận án khảo sát bằng bảng hỏi phát phiếu trực tiếp trong các năm 2022, 2023, 2024 với phương pháp chọn mẫu phi xác suất (sai số biên $e = 0{,}05$), gồm 2 nhóm khách thể:

  • Nhóm người dân: Khảo sát 410 phiếu trên tổng thể 6.052.000 người dân từ 18 tuổi trở lên tại TP.HCM (phân bổ: 235 phiếu tại phường, 52 phiếu tại thị trấn, 123 phiếu tại xã).
  • Nhóm cán bộ: Khảo sát 400 phiếu trên tổng thể 9.052 người gồm CBCC và người hoạt động không chuyên trách cấp xã (phân bổ: 230 phiếu tại phường, 50 phiếu tại thị trấn, 120 phiếu tại xã).
  • Địa bàn khảo sát trải rộng tại 8 quận, huyện, thành phố Thủ Đức (gồm 12 xã, 5 thị trấn, 23 phường). Dữ liệu được xử lý bằng Microsoft Excel.

3. Nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu những đối tượng nào và nhằm mục đích gì?

Luận án thực hiện phỏng vấn sâu 14 đối tượng (gồm 07 CBCC/người hoạt động không chuyên trách và 07 người dân đại diện cho các xã, phường, thị trấn). Mục đích phỏng vấn sâu là làm rõ các biện pháp thu hút của chính quyền, những rào cản thực tế trong quá trình tham gia, đồng thời phân tích sự khác biệt về phương thức tham gia của người dân giữa hai mô hình: phường có tổ chức HĐND và phường không tổ chức HĐND.

4. Luận án xác định người dân tham gia vào những nội dung QLNN cụ thể nào của CQCX?

Luận án xác định 3 nội dung tham gia chính:

  1. Tham gia vào xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.
  2. Tham gia vào hoạt động hướng dẫn và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, quy hoạch, kế hoạch.
  3. Tham gia vào hoạt động kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm hành chính tại địa bàn cơ sở.

5. Những nhóm giải pháp trọng tâm nào được đề xuất để tăng cường sự tham gia của người dân tại TP.HCM?

Tác giả đề xuất 8 nhóm giải pháp: (1) Hoàn thiện và cụ thể hóa các quy định pháp luật; (2) Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của CBCC cấp xã; (3) Đẩy mạnh công khai minh bạch và trách nhiệm giải trình; (4) Tổ chức thu hút gắn với đặc thù từng loại hình đơn vị hành chính (xã, phường, thị trấn); (5) Bảo đảm các điều kiện cần thiết cho người dân tham gia; (6) Đẩy mạnh ứng dụng CNTT và nền tảng số; (7) Xây dựng Bộ chỉ số đo lường, đánh giá mức độ tham gia của người dân; (8) Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và ban điều hành ấp/khu phố.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Trần Bá Hùng đã giải quyết một cách khoa học vấn đề lý luận và thực tiễn về sự tham gia của Nhân dân vào hoạt động QLNN của CQCX tại TP.HCM giai đoạn 2016–2024. Thông qua việc kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trên cỡ mẫu 810 phiếu khảo sát và 14 cuộc phỏng vấn sâu, công trình đã xác lập khung phân tích 5 cấp độ tham gia, đánh giá thực trạng trên cả 3 loại hình đơn vị hành chính cơ sở và chỉ ra các rào cản mang tính hệ thống. Hệ thống 8 nhóm giải pháp cùng đề xuất Bộ chỉ số đo lường định lượng đóng góp nguồn luận cứ khoa học có giá trị ứng dụng thiết thực cho công tác quản trị địa phương tại TP.HCM và quá trình hoàn thiện thể chế dân chủ ở cơ sở tại Việt Nam.