Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tiến trình cải cách nền hành chính nhà nước và hội nhập quốc tế, chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức giữ vai trò quyết định đến hiệu lực, hiệu quả quản trị công. Tại Hội nghị Trung ương 9 khóa IX, Đảng đã xác định nhiệm vụ trọng tâm là đổi mới phương pháp đánh giá cán bộ thông qua việc xây dựng và thực thi hệ thống quy chế cụ thể. Định hướng này tiếp tục được thể chế hóa trong Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 18/11/2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011–2020, trong đó khoản 4 Điều 3 yêu cầu hoàn thiện quy định pháp luật về đánh giá cán bộ, công chức trên cơ sở kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao và kiên quyết bãi miễn những cá nhân không hoàn thành nhiệm vụ.
Tại địa phương, Nghị quyết số 03-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thái Nguyên đã đặt mục tiêu xây dựng huyện Phú Bình cơ bản đạt tiêu chuẩn thị xã vào năm 2025 và trở thành thị xã trước năm 2030. Nhằm hiện thực hóa mục tiêu này, Huyện ủy Phú Bình xác định quản lý công chức là một khâu đột phá, đòi hỏi đội ngũ công chức phải đạt chuẩn về chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng hành chính và năng lực thực thi công vụ. Tuy nhiên, hoạt động đánh giá thực hiện công việc (ĐGTHCV) tại Ủy ban nhân dân (UBND) huyện Phú Bình thời gian qua vẫn bộc lộ nhiều điểm hạn chế: quy chế đánh giá chưa thực sự chi tiết, phương pháp còn mang tính hình thức, nể nang, cào bằng hoặc dập khuôn, dẫn đến việc kết quả đánh giá chưa phản ánh chính xác năng lực thực chất của từng công chức. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, tác giả Nguyễn Ngọc Anh đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Quản trị nhân lực tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội với đề tài: "Đánh giá thực hiện công việc của đội ngũ công chức tại UBND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên".
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là trên cơ sở hệ thống hóa lý luận, cơ sở pháp lý và phân tích thực trạng ĐGTHCV tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Phú Bình, đề xuất hệ thống giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác này.
Để đạt được mục tiêu nêu trên, khóa luận xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và pháp lý về đánh giá thực hiện công việc đối với công chức.
- Phân tích thực trạng công tác đánh giá thực hiện công việc của đội ngũ công chức tại UBND huyện Phú Bình.
- Đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả đánh giá thực hiện công việc của đội ngũ công chức tại đơn vị.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định rõ ràng:
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống các chính sách và hoạt động đánh giá thực hiện công việc đối với công chức tại UBND huyện Phú Bình.
- Phạm vi không gian: Khóa luận giới hạn nghiên cứu trong phạm vi đội ngũ công chức công tác tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Phạm vi thời gian: Thu thập dữ liệu thứ cấp và đánh giá thực trạng trong giai đoạn 2016–2020 (kèm số liệu thống kê cơ cấu công chức cập nhật đến năm 2021); dữ liệu sơ cấp được thu thập qua đợt khảo sát thực địa từ ngày 28/02/2022 đến ngày 13/03/2022.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các quy định, tiêu chuẩn, phương pháp, quy trình, việc sử dụng kết quả ĐGTHCV và các yếu tố tác động trong khu vực hành chính công cấp huyện.
Đề tài vận hành dựa trên 2 giả thuyết nghiên cứu:
- Giả thuyết 1: Đánh giá thực hiện công việc của đội ngũ công chức tại UBND huyện Phú Bình đã được thực hiện đúng quy định của pháp luật nhưng thực tiễn đánh giá còn mang nặng tính hình thức; mức độ khách quan, chính xác và công bằng chưa cao.
- Giả thuyết 2: Để nâng cao hiệu quả ĐGTHCV đối với công chức tại UBND huyện Phú Bình, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp về nâng cao nhận thức, hoàn thiện cơ sở pháp lý và hệ thống đánh giá thực hiện công việc đối với công chức.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên việc kế thừa các công trình nghiên cứu quản trị nguồn nhân lực trong và ngoài nước. Về mặt khái niệm, tác giả tiếp thu định nghĩa chuẩn của PGS.TS. Nguyễn Ngọc Quân và ThS. Nguyễn Vân Điềm (2012): ĐGTHCV là sự đánh giá có hệ thống và chính thức tình hình thực hiện công việc của người lao động trong mối quan hệ so sánh với các tiêu chuẩn đã được xây dựng và thảo luận với người lao động. Khung lý thuyết phân tích hệ thống ĐGTHCV được thiết lập dựa trên mô hình tiếp cận của PGS. Mai Thanh Lan (2019), bao gồm 8 thành tố cấu thành: (1) Mục đích đánh giá, (2) Chu kỳ đánh giá, (3) Chủ thể đánh giá, (4) Đối tượng đánh giá, (5) Tiêu chuẩn đánh giá, (6) Phương pháp đánh giá, (7) Quy trình đánh giá và (8) Sử dụng kết quả đánh giá.
Về phương diện kỹ thuật đánh giá nhân sự, tác giả tổng thuật các phương pháp kinh điển:
- Phương pháp so sánh: Xếp hạng đơn giản (ranking) và phân phối tỷ lệ bắt buộc (grading/forced distribution).
- Phương pháp quản trị theo mục tiêu (Management by Objectives - MBO).
- Phương pháp ghi chép các sự kiện quan trọng (Critical Incident Technique).
- Phương pháp thang đo đồ họa (Graphic Rating Scales).
- Phương pháp phản hồi 360 độ (360-degree feedback).
Cơ sở pháp lý của đề tài được tổng hợp qua hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước qua các thời kỳ: Quyết định số 11/1998/TCCP-CCVC của Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ; Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019 (Luật số 52/2019/QH14); Nghị định số 06/2010/NĐ-CP; Nghị định số 24/2010/NĐ-CP; Quyết định số 1557/QĐ-TTg ngày 18/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ; Nghị định số 56/2015/NĐ-CP và Nghị định số 88/2017/NĐ-CP; Nghị định số 138/2020/NĐ-CP; và văn bản trực tiếp điều chỉnh giai đoạn hiện tại là Nghị định số 90/2020/NĐ-CP ngày 13/8/2020 của Chính phủ về đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức.
Để thu thập và xử lý thông tin phục vụ chứng minh giả thuyết, nghiên cứu đã phối hợp 4 phương pháp cụ thể:
- Phương pháp nghiên cứu, tổng hợp tài liệu: Thu thập báo cáo thống kê định kỳ, hồ sơ đánh giá công chức, dữ liệu tổ chức biên chế giai đoạn 2016–2021 do Phòng Nội vụ và các phòng chuyên môn thuộc UBND huyện Phú Bình cung cấp.
- Phương pháp quan sát, tham dự: Trực tiếp ghi chép diễn biến hoạt động thực thi công vụ và các cuộc họp bình xét, giao ban định kỳ tại các phòng chuyên môn trong thời gian tác giả thực tập tốt nghiệp.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn bán cấu trúc các cán bộ quản lý và công chức thừa hành, bao gồm lãnh đạo Văn phòng UBND huyện (ông N.Đ.M), Trưởng phòng Phòng Nội vụ (bà N.T.H), chuyên viên Phòng Tài chính - Kế hoạch (anh N.V.H), chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội (chị Đ.T.T.H) và chuyên viên Phòng Tài nguyên và Môi trường (anh Đ.H.T).
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Thiết kế phiếu khảo sát gồm 15 nội dung xoay quanh nhận thức, tiêu chuẩn, phương pháp, chủ thể, quy trình và mức độ khách quan của công tác ĐGTHCV. Phiếu khảo sát phát trực tiếp cho công chức tại các cơ quan chuyên môn UBND huyện Phú Bình từ ngày 28/02/2022 đến ngày 13/03/2022. Số lượng phiếu phát ra 80 phiếu, thu về 80 phiếu hợp lệ ($n = 80$, đạt tỷ lệ phản hồi 100%). Dữ liệu điều tra được nhập liệu, tổng hợp và xử lý thống kê mô tả bằng phần mềm Microsoft Excel.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về công tác đánh giá thực hiện công việc đối với công chức
Chương 1 tập trung làm rõ các khái niệm nền tảng về công chức và ĐGTHCV trong khu vực công. Dựa trên Luật Cán bộ, công chức 2008 (sửa đổi 2019), công chức trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện được xác định là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, nằm trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, chịu sự quản lý trực tiếp của UBND cấp huyện và sự hướng dẫn nghiệp vụ của sở chuyên ngành cấp tỉnh. Tác giả chỉ rõ 4 đặc trưng của công chức cấp huyện: tính trung thành với Nhà nước; tính pháp lý trong tuyển dụng và thực thi quyền hạn; tính chuyên nghiệp cao; và vai trò mắt xích trung gian kết nối sự chỉ đạo từ cấp tỉnh xuống chính quyền cấp xã.
Về bản chất, ĐGTHCV đối với công chức cấp huyện là việc đối chiếu mức độ hoàn thành nhiệm vụ thực tế so với chuẩn chức danh, tiêu chí chuyên môn và nhiệm vụ đột xuất được phân công. Tác giả luận giải 6 vai trò then chốt của ĐGTHCV:
- Định hướng cho công chức nhìn nhận khiếm khuyết để tự đào tạo, cải thiện năng lực.
- Cung cấp căn cứ thực chứng cho nhà quản lý đưa ra quyết định nhân sự (tuyển dụng, bổ nhiệm, quy hoạch, khen thưởng, kỷ luật).
- Làm cơ sở sắp xếp, bố trí nhân sự phù hợp với đề án vị trí việc làm.
- Xác định chính xác nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ.
- Hỗ trợ xây dựng lộ trình công danh và kế hoạch phát triển cá nhân của công chức.
- Thiết lập cơ chế tạo động lực lao động thông qua sự công bằng trong đãi ngộ.
Quy trình ĐGTHCV chuẩn hóa được phân tích qua 3 giai đoạn: chuẩn bị đánh giá (thu thập tài liệu, đào tạo đánh giá viên, thỏa thuận tiêu chuẩn); thực hiện đánh giá (thông báo chương trình, công chức tự đánh giá, thu thập thông tin nhiều chiều, tổng hợp điểm); tổng kết và khắc phục tồn tại sau đánh giá (lập báo cáo, họp tổng kết, xây dựng kế hoạch khắc phục). Chương 1 cũng phân loại các nhân tố ảnh hưởng thành nhóm chủ quan (nhận thức và trách nhiệm của lãnh đạo; đặc thù công việc cơ quan; ý thức chính trị của công chức) và nhóm khách quan (sự đồng bộ, minh bạch của thể chế pháp luật quản lý công vụ).
Chương 2: Thực trạng công tác đánh giá thực hiện công việc của đội ngũ công chức tại UBND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Chương 2 mô tả toàn diện cơ cấu tổ chức và nhân sự tại UBND huyện Phú Bình. Bộ máy cơ quan chuyên môn của huyện vận hành theo Nghị định số 37/2014/NĐ-CP và Nghị định số 108/2020/NĐ-CP, gồm Thường trực UBND (01 Chủ tịch, 02 Phó Chủ tịch), 10 cơ quan chuyên môn thống nhất và 03 đơn vị chuyên môn đặc thù (Phòng Kinh tế và Hạ tầng, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Dân tộc).
Về quy mô và chất lượng nhân sự, năm 2021 UBND huyện có 109 công chức, trong đó có 83 công chức thuộc các cơ quan chuyên môn (tăng 5 người so với quy mô 75 công chức năm 2020), bao gồm 28 công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý và 55 công chức chuyên môn thừa hành. Cơ cấu nhân sự có các đặc điểm:
- Độ tuổi: Nhóm dưới 35 tuổi có 16 người (chiếm 20%); nhóm từ 35 đến 45 tuổi chiếm đa số với 48 người (chiếm 60%); nhóm từ 45 tuổi trở lên có 16 người (chiếm 20%).
- Giới tính: Năm 2020 tỷ lệ nam chiếm 62,7% (47 người), nữ chiếm 37,3% (28 người); đến năm 2021 cơ cấu có sự điều chỉnh cân bằng hơn với 59,0% nam và 40,9% nữ.
- Trình độ chuyên môn: Năm 2021, công chức có trình độ từ đại học trở lên chiếm 87,7% (trong đó thạc sĩ tăng từ 11 người năm 2020 lên 15 người năm 2021, không có tiến sĩ); trình độ cao đẳng trở xuống giảm còn 7,1%.
- Trình độ lý luận chính trị: 83,1% công chức đã qua đào tạo (51 người có trình độ trung cấp, 18 người có trình độ cao cấp hoặc cử nhân), chỉ còn 16,9% (14 người, chủ yếu dưới 35 tuổi) chưa qua đào tạo lý luận chính trị.
Tác giả thống kê diễn biến kết quả xếp loại chất lượng công chức giai đoạn 2016–2020 theo hồ sơ lưu trữ của Phòng Nội vụ huyện:
| Năm |
Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ (%) |
Hoàn thành tốt nhiệm vụ (%) |
Hoàn thành nhiệm vụ (%) |
Không hoàn thành nhiệm vụ (%) |
| 2016 |
28,0% |
70,0% |
2,0% |
0,0% |
| 2017 |
35,5% |
62,0% |
2,5% |
0,0% |
| 2018 |
41,4% |
58,6% |
0,0% |
0,0% |
| 2019 |
60,1% |
39,9% |
0,0% |
0,0% |
| 2020 |
72,0% |
28,0% |
0,0% |
0,0% |
Dữ liệu cho thấy tỷ lệ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tăng đột biến từ 28,0% (2016) lên 72,0% (2020), trong khi tỷ lệ không hoàn thành nhiệm vụ tuyệt đối duy trì ở mức 0% trong suốt 5 năm.
Đi sâu vào thực trạng từng khâu của hệ thống ĐGTHCV, kết quả điều tra xã hội học ($n = 80$) cho thấy:
- Về chu kỳ: Cơ quan kết hợp đánh giá năm theo Mẫu số 02 (Nghị định số 90/2020/NĐ-CP) và đánh giá sơ bộ 6 tháng một lần trong cuộc họp giao ban giữa Thường trực UBND huyện với thủ trưởng các phòng ban.
- Về chủ thể và đào tạo đánh giá viên: 83,75% công chức rất đồng ý và 16,25% đồng ý với mô hình kết hợp tự đánh giá, tập thể góp ý và lãnh đạo quyết định (Bảng 2.3). Tuy nhiên, công tác tập huấn người đánh giá chưa được tổ chức chính quy mà chỉ dừng lại ở việc chuyển giao văn bản, hướng dẫn đọc quy định, dẫn đến tình trạng mỗi cá nhân tự hiểu tiêu chí theo nhận định chủ quan.
- Về tiêu chuẩn và căn cứ: Có 76,25% công chức đồng tình việc đánh giá dựa trên yếu tố đầu vào và quá trình công tác, trong khi 65,0% ủng hộ đánh giá căn cứ vào kết quả thực hiện nhiệm vụ (Bảng 2.1). Đối với tính rõ ràng, khoa học của tiêu chuẩn hiện hành, có 27,5% rất đồng ý, 36,25% đồng ý, 12,5% phân vân và có tới 23,75% không đồng ý (Bảng 2.2). Lý do chưa đồng tình tập trung vào việc tiêu chí mang nặng tính định tính, khó lượng hóa, chú trọng thời gian hoàn thành hơn độ phức tạp của nhiệm vụ.
- Về phương pháp: Đơn vị chủ yếu vận dụng phương pháp quản trị theo mục tiêu (MBO), kết hợp phương pháp cho điểm xếp hạng và phản hồi 360 độ. Kết quả khảo sát cho thấy chỉ có 23,75% rất đồng ý và 41,25% đồng ý rằng phương pháp đánh giá hiện nay là hoàn toàn phù hợp, trong khi 21,25% phân vân và 13,75% không đồng ý (Bảng 2.4).
- Về phản hồi thông tin: Khảo sát ghi nhận 28,75% rất đồng ý, 60,0% đồng ý và 11,25% phân vân về hệ thống thông tin phản hồi kết quả đánh giá (Bảng 2.5).
Về mặt quy trình, UBND huyện Phú Bình áp dụng quy trình 5 bước phân định rõ hai nhóm đối tượng:
- Nhóm công chức không giữ chức danh lãnh đạo: Bước 1 (Viết bản tự nhận xét); Bước 2 (Họp phòng ban lấy ý kiến tập thể); Bước 3 (Lãnh đạo phòng nhận xét, dự kiến phân loại); Bước 4 (Chủ tịch UBND huyện xem xét biên bản, ra quyết định bằng văn bản); Bước 5 (Lưu trữ hồ sơ tại Phòng Nội vụ).
- Nhóm công chức lãnh đạo, quản lý: Bước 1 (Tự đánh giá); Bước 2 (Họp lãnh đạo UBND huyện và thủ trưởng cơ quan chuyên môn); Bước 3 (Chủ tịch UBND huyện nhận xét, báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh); Bước 4 (Lấy ý kiến nhận xét bằng văn bản của Đảng ủy); Bước 5 (Chủ tịch UBND tỉnh quyết định đánh giá, phân loại và thông báo bằng văn bản).
Tác giả chỉ rõ các hạn chế lớn: Công tác ĐGTHCV còn mang nặng tính hình thức; tình trạng nể nang, né tránh va chạm dẫn đến kết quả phân loại bị cào bằng; phương pháp đánh giá cứng nhắc; tiêu chuẩn chưa phản ánh được tính phức tạp của vị trí việc làm. Nguyên nhân xuất phát từ việc người đứng đầu một số phòng ban chưa quyết liệt, thiếu công cụ đo lường định lượng và sự thiếu hụt các chương trình đào tạo kỹ năng đánh giá nhân sự.
Chương 3: Một số giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác đánh giá thực hiện công việc của đội ngũ công chức tại UBND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Dựa trên phân tích nguyên nhân của các hạn chế, Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp và khuyến nghị mang tính đồng bộ:
- Nâng cao nhận thức: Tuyên truyền sâu rộng cho cả cán bộ quản lý và công chức thừa hành về bản chất của ĐGTHCV không phải chỉ để tìm lỗi, xử phạt hay phục vụ cơ cấu thi đua, mà là công cụ phát triển năng lực cá nhân và nâng cao hiệu năng của tổ chức công.
- Hoàn thiện hệ thống quy chế, quy định nội bộ: Rà soát, cụ thể hóa các tiêu chí của Nghị định số 90/2020/NĐ-CP sát với tính chất công việc của từng phòng ban; ban hành quy chế đánh giá nội bộ với các chỉ số đo lường rõ ràng, tránh chung chung.
- Hoàn thiện hệ thống kỹ thuật ĐGTHCV:
- Xây dựng bản mô tả công việc và khung năng lực chuẩn cho 55 vị trí công chức chuyên môn.
- Kết hợp linh hoạt phương pháp đánh giá theo mục tiêu (MBO) gắn với lượng hóa kết quả đầu ra và phương pháp phản hồi đa chiều 360 độ nhằm triệt tiêu tính thiên vị.
- Tổ chức các khóa tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng đánh giá định kỳ cho đội ngũ lãnh đạo, quản lý trực tiếp chấm điểm.
- Minh bạch hóa việc cung cấp thông tin phản hồi sau đánh giá để công chức có cơ hội giải trình và xây dựng kế hoạch khắc phục điểm yếu.
Chương này cũng phân định các khuyến nghị cụ thể theo 4 nhóm chủ thể:
- Đối với Ban Thường vụ Huyện ủy và Lãnh đạo UBND huyện Phú Bình: Chỉ đạo thống nhất việc gắn kết quả ĐGTHCV với quy hoạch, bổ nhiệm; kiểm tra định kỳ tính thực chất trong bình xét thi đua của các phòng ban.
- Đối với Phòng Nội vụ: Giữ vai trò cơ quan tham mưu nòng cốt, tổ chức hướng dẫn nghiệp vụ đánh giá, thẩm định hồ sơ phân loại, khắc phục tình trạng cào bằng tỷ lệ xuất sắc.
- Đối với các cơ quan chuyên môn trực tiếp sử dụng công chức: Trưởng các phòng ban phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, thẳng thắn phê bình, phân công việc gắn với chỉ tiêu rõ ràng làm căn cứ đánh giá.
- Đối với bản thân đội ngũ công chức: Nâng cao tinh thần tự giác, tự kiểm điểm trung thực, từ bỏ tâm lý tự mãn hoặc e ngại góp ý cho đồng nghiệp.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã phản ánh trung thực thực trạng công tác ĐGTHCV thông qua số liệu điều tra thực địa và hồ sơ hành chính:
- Làm rõ cơ cấu nhân sự của 83 công chức thuộc 13 cơ quan chuyên môn UBND huyện Phú Bình năm 2021 với 87,7% đạt trình độ đại học trở lên và 83,1% có trình độ lý luận chính trị.
- Chỉ ra sự bất hợp lý trong kết quả xếp loại thi đua 5 năm (2016–2020) khi tỷ lệ hoàn thành xuất sắc tăng từ 28,0% lên 72,0%, trong khi tỷ lệ không hoàn thành nhiệm vụ là 0,0%, phản ánh rõ nét "bệnh thành tích" và sự nể nang trong quản trị công vụ cấp huyện.
- Bằng mẫu khảo sát $n = 80$, nghiên cứu đã chỉ ra sự phân hóa trong nhận thức: 23,75% công chức chưa đồng tình với tính khoa học của tiêu chuẩn đánh giá và 35,0% công chức chưa thực sự hài lòng hoặc còn phân vân đối với phương pháp đánh giá hiện tại.
Về mặt đóng góp khoa học, tác giả tự nêu:
- Khắc phục khoảng trống của các nghiên cứu trước đây vốn thường tập trung vào khu vực doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập hoặc tiếp cận đánh giá công chức thuần túy dưới góc độ "kết quả thực thi công vụ".
- Hệ thống hóa toàn diện các thành tố của hệ thống ĐGTHCV trong một cơ quan hành chính nhà nước cấp huyện cụ thể đang trong giai đoạn chuyển dịch cơ cấu hành chính để thành lập thị xã.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp giữa nâng cao nhận thức, chuẩn hóa bản mô tả công việc, cải tiến phương pháp đo lường và hoàn thiện cơ chế trách nhiệm của từng chủ thể quản lý.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số giới hạn đã được tác giả xác định trong phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi khảo sát mới dừng lại ở 83 công chức thuộc các cơ quan chuyên môn cấp huyện, chưa mở rộng ra toàn bộ đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn trực thuộc huyện Phú Bình.
- Cỡ mẫu khảo sát dừng lại ở $n = 80$, số liệu thứ cấp đánh giá phân loại cán bộ mới thu thập được trong chu kỳ 2016–2020.
- Phương pháp phân tích dữ liệu định lượng chủ yếu dừng lại ở thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm bằng phần mềm Excel), chưa áp dụng các mô hình kinh tế lượng hoặc phân tích tương quan hồi quy sâu để kiểm định mức độ tác động của từng yếu tố đến độ chính xác của kết quả đánh giá.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được mở ra:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang khối các cơ quan Đảng, đoàn thể và chính quyền cơ sở cấp xã trên địa bàn huyện Phú Bình.
- Nghiên cứu thiết kế bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công việc (KPIs) gắn chặt với từng đề án vị trí việc làm cụ thể trong cơ quan hành chính nhà nước khi huyện Phú Bình chính thức nâng cấp thành thị xã.
Giá trị tham khảo
Báo cáo nghiên cứu có giá trị thực tiễn và học thuật rõ rệt đối với các nhóm đối tượng:
- Sinh viên, học viên ngành Quản trị nhân lực, Quản lý công, Khoa học quản lý: Cung cấp tài liệu tham khảo thực tế về việc vận dụng khung lý thuyết 8 thành tố của hệ thống ĐGTHCV vào khu vực công; tham khảo quy trình khảo sát bằng bảng hỏi và phiếu phỏng vấn bán cấu trúc tại cơ quan hành chính cấp huyện.
- UBND huyện Phú Bình và các địa phương tương đồng: Là tài liệu tham khảo trực tiếp cho Phòng Nội vụ và Thường trực UBND huyện Phú Bình trong việc rà soát, tái cấu trúc quy chế đánh giá công chức hàng năm, khắc phục tính hình thức trong xếp loại cán bộ.
- Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Hệ thống bảng số liệu khảo sát ý kiến công chức về căn cứ, tiêu chuẩn, phương pháp (từ Bảng 2.1 đến Bảng 2.5) và sơ đồ hóa quy trình đánh giá 5 bước phân định chi tiết giữa công chức lãnh đạo và công chức chuyên môn.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng cỡ mẫu khảo sát bao nhiêu và được thực hiện trong thời gian nào?
Khóa luận sử dụng mẫu khảo sát gồm 80 phiếu hợp lệ thu về từ 80 phiếu phát ra ($n = 80$, đạt tỷ lệ 100%) đối với công chức đang công tác tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Phú Bình. Thời gian khảo sát thực địa diễn ra từ ngày 28/02/2022 đến ngày 13/03/2022.
2. Kết quả xếp loại công chức tại UBND huyện Phú Bình giai đoạn 2016–2020 phản ánh thực trạng gì?
Số liệu cho thấy tỷ lệ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tăng từ 28,0% (năm 2016) lên 72,0% (năm 2020), loại hoàn thành tốt nhiệm vụ giảm từ 70,0% xuống 28,0%, loại hoàn thành nhiệm vụ chỉ xuất hiện ở năm 2016 (2,0%) và năm 2017 (2,5%), sau đó giảm về 0,0%. Tỷ lệ không hoàn thành nhiệm vụ luôn bằng 0,0% trong suốt 5 năm. Sự biến thiên này phản ánh thực trạng đánh giá còn mang nặng tính nể nang, cào bằng và bệnh thành tích.
3. Đội ngũ công chức đánh giá như thế nào về tiêu chuẩn và căn cứ ĐGTHCV hiện hành?
Theo khảo sát, có 76,25% công chức đồng ý/rất đồng ý việc đánh giá căn cứ vào đầu vào và quá trình công tác, trong khi 65,0% đồng ý/rất đồng ý căn cứ vào kết quả công việc. Đối với tính rõ ràng, khoa học của tiêu chuẩn đánh giá, có tới 23,75% công chức không đồng ý và 12,5% phân vân (khoảng một phần ba công chức thừa hành nhận định chưa phù hợp), nguyên nhân do tiêu chí còn nặng tính định tính, khó lượng hóa và chưa tính đến độ phức tạp của công việc.
4. Quy trình đánh giá công chức tại đơn vị có sự khác biệt như thế nào giữa nhóm lãnh đạo và nhóm thừa hành?
Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo được đánh giá qua 5 bước trong phạm vi cấp huyện, do Chủ tịch UBND huyện ra quyết định phân loại cuối cùng. Đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quy trình 5 bước có tính phức tạp hơn: sau khi tổ chức họp liên phòng ban, Chủ tịch UBND huyện báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh, đồng thời lấy ý kiến bằng văn bản của Đảng ủy và quyết định xếp loại cuối cùng thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND tỉnh.
5. Cơ sở pháp lý mới nhất mà khóa luận căn cứ để đối chiếu thực trạng đánh giá công chức là văn bản nào?
Văn bản pháp lý trọng tâm và mới nhất được tác giả phân tích và áp dụng đối chiếu trong khóa luận là Nghị định số 90/2020/NĐ-CP ngày 13/8/2020 của Chính phủ về đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức (đặc biệt là Điều 2 về nguyên tắc, Điều 3 về tiêu chí chung và các Điều 8, 9, 10, 11 quy định tiêu chí xếp loại 4 mức chất lượng).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Ngọc Anh đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và pháp lý về đánh giá thực hiện công việc đối với công chức trong khu vực hành chính công. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp giai đoạn 2016–2020 và khảo sát thực chứng 80 công chức vào đầu năm 2022, tác giả đã phản ánh đúng thực trạng công tác đánh giá tại UBND huyện Phú Bình, chỉ ra những bất cập về tính hình thức, nể nang và sự thiếu hụt tiêu chí định lượng. Các giải pháp và khuyến nghị được đề xuất mang tính hệ thống, gắn liền với mục tiêu xây dựng huyện Phú Bình trở thành thị xã, cung cấp nguồn tư liệu tham khảo thiết thực cho công tác quản trị nhân sự công tại địa phương.