Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÁNH GIÁ THỰC HIỆN CÔNG VIỆC TẠI BỆNH VIỆN 1. Một số khái niệm liên quan 1. Công việc Để đạt được mục tiêu của mình, mỗi tổ chức đều phải xác định và phân chia nhiệm vụ cho từng cá nhân, bộ phận để thực hiện, các nhóm nhiệm vụ này được gọi là công việc. Theo từ điển Tiếng Việt, “công việc là việc phải bỏ công sức ra để làm” [16, Tr.
Theo Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Vân Điềm (2018), “Công việc là tất cả những nhiệm vụ khác được thực hiện bởi cùng một người hoặc là tất cả những nhiệm vụ giống nhau được thực hiện bởi một nhóm người” [19, tr. Nói cách khác, “Tất cả những nhiệm vụ khác nhau được thực hiện bởi một NLĐ hoặc là tất cả các nhiệm vụ giống nhau được thực hiện bởi một nhóm NLĐ” [19, tr. Cụ thể hơn, theo tác giả Lê Thanh Hà, “công việc là tổng hợp các nhiệm vụ, trách nhiệm hay các chức năng mà một con người hay một nhóm người phải đảm nhận trong một cơ quan, tổ chức. Nó chỉ rõ những chức năng nhiệm vụ của tổ chức, cơ quan mà một người hay một nhóm người phải thực hiện.
Đồng thời, công việc cũng là cơ sở để phân chia các chức năng, quyền hạn và trách nhiệm cho từng người, từng nhóm người trong một tổ chức” [13, tr. Công việc là một phần trong hoạt động được thường xuyên thực hiện để đổi lấy việc thanh toán hoặc tiền công, thường là nghề nghiệp của một người. Tập hợp hàng loạt các công việc của một người trong cả cuộc đời là sự nghiệp của họ. Quá trình phân công và hợp tác lao động tạo nên các loại hình nghề nghiệp và công việc khác nhau.
Trong đó, một công việc được xác định phải có điểm đầu và điểm kết thúc (thường trong 08 (tám) giờ/ngày), và phải có mục tiêu, kết quả, có nguồn lực. Như vậy, trong bài này tác giả đồng nhất với quan điểm, “Công việc là những nhiệm vụ khác nhau mà một người hay một nhóm người trong một tổ chức phải đảm nhiệm. Đồng thời, công việc là cơ sở để phân chia trách nhiệm, chức năng, quyền hạn của từng người hay từng nhóm người trong tổ chức”[13, tr. Thực hiện công việc Theo Nguyễn Tiệp (2011), “Về mặt vật chất, quá trình lao động là quá trình người sử dụng lao động sử dụng công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động để làm ra sản phẩm.
Về mặt xã hội, quá trình thực hiện công việc làm nảy sinh các mối quan hệ giữa người với người trong lao động, gọi là quan hệ lao động. Các mối quan hệ này làm hình thành tính chất tập thể, tính chất xã hội của lao động” [30, tr. Thực hiện công việc là việc con người thông qua những hành động cụ thể để đạt được mục tiêu. Nói cách khác, thực hiện công việc có thể hiểu là quá trình lao động, là tổng thể những hành động của con người để hoàn thành một hay nhiều nhiệm vụ nhất định.
Việc thực hiện công việc được xác định dựa trên các bản mô tả công việc và bản tiêu chuẩn thực hiện công việc, giúp cho viên chức định hình được công việc cần phải làm và các yêu cầu thực hiện công việc. Đánh giá thực hiện công việc 1. Định nghĩa Có rất nhiều định nghĩa được các nhà khoa học đưa ra về ĐGTHCV, như: Theo tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2018), “ĐGTHCV thường được hiểu là sự đánh giá có hệ thống và chính thức tình hình thực hiện công việc của NLĐ trong quan hệ so sánh với các tiêu chuẩn đã được xây dựng và thảo luận về sự đánh giá đó với NLĐ” [19, tr. Như vậy, trong một hệ thống chính thức, việc hoàn thành nhiệm vụ của viên chức được đánh giá theo những khoảng thời gian được quy định và được sử dụng những phương pháp đã được thiết kế cụ thể, các kết quả đánh giá cần được phản hồi với viên chức để họ biết được mức độ thực hiện công việc của mình.
Với các tiêu chuẩn được thiết lập từ trước theo từng vị trí công việc, viên chức được đánh giá dựa trên kết quả hoàn thành mỗi mục, nhiệm vụ được giao trong khoảng thời gian quy định. Trong giáo trình “Quản trị nhân lực 1” của tác giả Lê Thanh Hà lại cho rằng “ĐGTHCV thường được hiểu là sự đánh giá có hệ thống và chính thức tình hình thực hiện công việc của người (nhóm người) lao động trong quan hệ so sánh với các tiêu chuẩn đã được xây dựng và thỏa thuận về sự đánh giá đó với NLĐ. Đây thực chất là việc so sánh tình hình thực hiện công việc của chính người (nhóm người) lao động so với yêu cầu đề ra của tổ chức” [13, tr. Theo đó, việc 8 ĐGTHCV sẽ căn cứ vào các tiêu chí đánh giá đã được xây dựng và được tập thể thông qua để tránh những định kiến chủ quan hoặc những thiếu sót khi đánh giá.
ĐGTHCV là một trong những nội dung quan trọng của hoạt động quản lý NNL. Nó là cơ sở cho các hoạt động quản lý NNL khác như tuyển mộ, tuyển chọn và đào tạo và phát triển, thù lao… Công tác quản lý NNL thành công hay không là do phần lớn tổ chức biết đánh giá đúng hiệu quả làm việc của viên chức. Có rất nhiều cách gọi khác nhau về hoạt động ĐGTHCV như: đánh giá thành tích, đánh giá viên chức. Tuy nhiên, khái niệm ĐGTHCV thường được hiểu như sau “ĐGTHCV chính là việc sử dụng các tiêu chuẩn đánh giá để đánh giá mức độ hoàn thành công việc của NLĐ trong tổ chức.
ĐGTHCV là cơ sở để tổ chức hoạch định NNL; giúp tổ chức dự báo mức độ hoàn thành mục tiêu của NLĐ trong những kì sắp tới; và là căn cử để tổ chức thực hiện khen thưởng hay kỉ luật lao động”. Nhận thấy khái niệm ĐGTHCV có hai thuộc tính cơ bản, đó là: tính hệ thống và tính chính thức. (i) Tính hệ thống thể hiện đánh giá theo những khoảng thời gian được quy định theo chu kỳ hoặc thực hiện liên tục không gián đoạn. Quá trình ĐGTHCV theo tiến trình có tổ chức, bộ máy đánh giá, sử dụng phương pháp đánh giá khoa học có lựa chọn sao cho phù hợp với mục đích đánh giá.
Đánh giá có hệ thống là sự đánh giá một cách toàn diện liên quan đến những khía cạnh công việc của viên chức, bao gồm kết quả công việc, phương pháp làm việc, những phẩm chất và kỹ năng thực hiện công việc (cách giải quyết vấn đề, khả năng sáng tạo…). Vì vậy, đánh giá có vai trò quan trọng đối với các nhà quản lý, giúp họ có cái nhìn tổng quan, sâu rộng hơn về viên chức, cải thiện mối quan hệ giữa các tổ chức và viên chức cũng như tình hình sử dụng lao động trong tổ chức. (ii) Tính chính thức thể hiện hoạt động ĐGTHCV là công khai, cụ thể hóa bằng văn bản và được sự chấp nhận ủng hộ của tập thể viên chức. Tính chính thức được thể hiện ở chỗ các văn bản chỉ rõ được mục tiêu đánh giá là gì, tiêu chuẩn ra sao, chu kỳ đánh giá, phương pháp đánh giá, người đánh giá, cách chấm điểm… kèm theo đó là các hình thức khen thưởng, kỷ luật đối với các kết quả thu được.
Bên cạnh đó, sự đánh giá cần phải minh bạch, có trao đổi, thảo luận giữa cán bộ quản lý và viên chức để các kết quả được khách quan, rõ ràng. Bởi đối tượng 9 ĐGTHCV không phải là năng lực, phẩm chất, trình độ giáo dục đạo tạo, kỹ năng lao động mà chính là sự thực hiện công việc của viên chức. Nói cách khác, ĐGTHCV là sự đo lường một cách hệ thống (được xây dựng theo trình tự, bao gồm các yếu tố cơ bản, có mối liên hệ mật thiết với nhau, đó là: các tiêu chuẩn thực hiện công việc, đo lường sự thực hiện công việc theo các tiêu thức trong tiêu chuẩn và thông tin phản hồi giữa viên chức và bộ phận quản lý), chính thức và công khai kết quả thực hiện công việc so với các tiêu chuẩn đã đề ra; được phổ biến rộng rãi trong tổ chức và được áp dụng cho tất cả mọi người theo quy định; được lượng hóa bằng điểm số, liệt kê các sự kiện hoặc so sánh sự thực hiện công việc của cá nhân. Tóm lại, đánh giá thực hiện công việc viên chức trong bệnh viện là việc sử dụng các tiêu chí đánh giá (thông qua việc kiểm định các chỉ số nói lên chất lượng công việc, sự cống hiến) để đánh giá mức độ hoàn thành công việc của viên chức.
Mục đích của đánh giá thực hiện công việc Bất cứ một tổ chức nào cũng cần ĐGTHCV, bởi đó là một hoạt động quản trị nhân lực quan trọng, đóng góp một phần rất lớn cho công tác quản lý của nhà lãnh đạo. Tùy thuộc vào mục đích đánh giá khác nhau mà có thể đánh giá một cách chính thức và không chính thức, nhưng đều có mục đích như sau: Đối với tổ chức: ĐGTHCV không chỉ giúp cho các tập thể lao động biết và hiểu được mức độ, mối tương quan, ưu và nhược điểm trong việc thực hiện công việc của nhau mà còn tạo ra sự đoàn kết trong tập thể, kích thích, tạo động lực lao động, khuyến khích tinh thần thi đua giữa các đơn vị và nâng cao sự phối hợp trong công việc, cùng phấn đấu đạt được những kết quả cao trong đánh giá. Bên cạnh đó, ĐGTHCV còn kích thích được sự cố gắng của cá nhân trong thực hiện công việc nếu đánh giá tập thể gắn liền với việc lựa chọn cá nhân tiêu biểu của tập thể đó. Trên cơ sở đó, xây dựng văn hóa tổ chức, đánh giá khách quan là cơ sở của công bằng, tạo bầu không khí thuận lợi trong lao động, hỗ trợ công tác truyền thông, giao tiếp, thảo luận giữa cấp trên và cấp dưới… Ngoài ra, ĐGTHCV còn giúp nhà quản lý thêm dữ liệu, hỗ trợ họ đưa ra các quyết định đúng đắn trong việc hoạch định, chính sách phát triển NNL tại tổ chức.
10 Đối với cá nhân: ĐGTHCV giúp cải tiến sự thực hiện công việc của viên chức, kích thích phấn đấu bằng cách cung cấp thông tin về mức độ thực hiện công việc của họ so với các tiêu chuẩn đặt ra và so với các viên chức khác. ĐGTHCV còn giúp viên chức tự phát hiện sai sót, rút ra biện pháp khắc phục, nâng cao ý thức trách nhiệm và tạo điều kiện cho viên chức tự khẳng định mình. Như vậy, việc đánh giá đúng kết quả của viên chức có ý nghĩa quan trọng, không chỉ với nhà quản lý, mà còn cả với viên chức.