Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân ngành Phát triển Nông thôn và Khuyến nông của tác giả Hoàng Thị Xuân (Khoa Kinh tế, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, thực hiện năm 2007 dưới sự hướng dẫn của ThS. Trần Đắc Dân) tập trung vào vấn đề chuyển dịch cơ cấu việc làm tại địa bàn nông thôn miền núi dưới tác động của ngành du lịch.

Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng được UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới vào ngày 05/07/2003 (đón nhận bằng chính thức vào tháng 04/2006), mở ra cơ hội lớn cho tỉnh Quảng Bình nói chung và xã vùng đệm Sơn Trạch nói riêng trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Dịch vụ - Công nghiệp - Nông nghiệp. Tuy nhiên, trước khi du lịch phát triển, Sơn Trạch là một xã miền núi thuần nông, kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào độc canh cây lương thực và khai thác lâm sản. Khi du lịch xuất hiện, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đa dạng hóa ngành nghề tại chỗ diễn ra còn chậm, các sản phẩm dịch vụ còn đơn điệu, năng lực tham gia của cư dân địa phương còn nhiều hạn chế. Đáng chú ý, một bộ phận thanh niên địa phương vẫn duy trì việc khai thác gỗ rừng trái phép (lâm tặc) như một nguồn thu nhập chính. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để vừa phát triển bền vững ngành du lịch, vừa tạo việc làm ổn định tại chỗ nhằm giảm thiểu áp lực khai thác tài nguyên rừng của các xã vùng đệm.

Tác giả xác định 07 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Tìm hiểu thực trạng đời sống người dân xã Sơn Trạch.
  2. Tìm hiểu thực trạng phát triển của ngành du lịch tỉnh Quảng Bình.
  3. Tìm hiểu sự biến đổi về cơ cấu lao động trong quá trình phát triển du lịch, cụ thể là mối tương quan giữa phát triển du lịch và tạo việc làm cho người dân tại chỗ.
  4. Tìm hiểu sự biến đổi về cơ cấu kinh tế của xã Sơn Trạch trong quá trình phát triển du lịch.
  5. Tìm hiểu thực trạng xã hội tại xã Sơn Trạch.
  6. Khảo sát thực trạng công tác giải quyết việc làm tại xã Sơn Trạch.
  7. Đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững, tạo việc làm gắn kết với phát triển du lịch.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian: Xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
  • Thời gian: Khóa luận được thực hiện từ tháng 04/2007 đến tháng 07/2007; chuỗi dữ liệu thứ cấp được sử dụng chủ yếu trong giai đoạn 2001 - 2006.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng khung lý thuyết dựa trên các khái niệm kinh tế - xã hội học nông thôn và du lịch học:

  • Khái niệm du lịch theo định nghĩa của Liên hiệp Quốc tế các Tổ chức Lữ hành Chính thức (IUOTO) tại Hội nghị Roma (1963) và các tiếp cận dưới góc độ không gian, kinh tế; bản chất, tính thời vụ và quy luật thời vụ của du lịch; khái niệm du lịch bền vững.
  • Lý thuyết về tính tất yếu của kinh tế phi nông nghiệp ở nông thôn (rural non-farm economy) theo nghiên cứu của Đào Thế Tuấn (2004), nhấn mạnh việc rút lao động ra khỏi nông nghiệp là điều kiện cốt lõi để nâng cao năng suất và thu nhập nông hộ.
  • Khái niệm về lao động, việc làm và thất nghiệp theo tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Từ điển Kinh tế Khoa học Xã hội (Paris, 1996), nghiên cứu của Đặng Xuân Thao, Nguyễn Hữu Dũng và Trần Hữu Trung; phân tích các yếu tố tác động đến khả năng tạo việc làm và mối quan hệ giữa thị trường sức lao động với tăng trưởng kinh tế.

Phương pháp nghiên cứu thực địa và xử lý dữ liệu:

  • Thu thập số liệu thứ cấp: Các báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội, địa chính, tài chính của UBND xã Sơn Trạch giai đoạn 2001 - 2006; Niên giám thống kê huyện Bố Trạch; số liệu từ Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Bố Trạch; tài liệu quản lý của Trung tâm Du lịch Văn hóa và Sinh thái Phong Nha - Kẻ Bàng.
  • Thu thập số liệu sơ cấp: Tiến hành điều tra khảo sát bằng bảng hỏi cấu trúc trên 03 nhóm đối tượng:
    • Mẫu điều tra hộ nông dân địa phương: $n = 52$ hộ (khảo sát về nhân khẩu, đất đai, tư liệu sản xuất, thu nhập, tình trạng khai thác rừng, mức độ tham gia hoạt động du lịch).
    • Mẫu điều tra lao động di cư nhập cư: $n = 50$ người (khảo sát về độ tuổi, quê quán, ngành nghề tham gia, nguyên nhân di cư đến địa bàn).
    • Mẫu thăm dò ý kiến du khách: $n = 53$ phiếu (đánh giá về chất lượng bán vé, hướng dẫn viên, bố trí thuyền, an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, dịch vụ bổ trợ tuyến Phong Nha - Tiên Sơn).
  • Phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh, tổng hợp điều tra nhanh nông thôn, phân tích ma trận SWOT; công cụ xử lý số liệu bao gồm Microsoft Excel và Microsoft Access.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Mở đầu

Chương này trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ thực tiễn chuyển đổi cơ cấu kinh tế vùng di sản, xác lập 07 mục tiêu nghiên cứu, phạm vi không gian - thời gian thực hiện đề tài và kết cấu 05 chương của khóa luận.

Chương 2: Tổng quan

Chương 2 cung cấp bức tranh tổng thể về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của xã Sơn Trạch:

  • Vị trí địa lý: Xã miền núi cách trung tâm huyện Bố Trạch 32 km về phía Tây, diện tích tự nhiên 10.120 ha; nằm trên vùng karst nhiệt đới cổ Kẻ Bàng - Khe Ngang dọc lưu vực sông Son và sông Chày.
  • Khí hậu: Nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng mạnh của gió Tây Nam khô nóng (tháng 4 - tháng 8, nhiệt độ cực đại $38^\circ\text{C}$) và gió mùa Đông Bắc (tháng 9 - tháng 3 năm sau, nhiệt độ cực tiểu $7^\circ\text{C}$), tạo nên tính thời vụ rõ rệt trong nông nghiệp và dịch vụ du lịch.
  • Dân số và cơ sở hạ tầng: Dân số trung bình năm 2006 là 9.871 người (4.881 nam, 4.990 nữ), trong đó 5.043 người trong độ tuổi lao động; phân bố ở 10 thôn (tập trung tại 4 thôn chính: Cù Lạc, Xuân Sơn, Phong Nha, Xuân Tiến); thành phần dân tộc gồm 99% người Kinh và gần 1% người Vân Kiều (bản Rào Con).
  • Hệ thống hạ tầng: Toàn xã có 12 trạm biến áp với tổng công suất 1.360 KVA; mạng lưới giao thông đường bộ gồm 10,7 km đường (trong đó 4,5 km đường xấu, 6,2 km trung bình), cầu Xuân Sơn và tuyến đường Hồ Chí Minh, đường 20 Quyết Thắng.
  • Cơ cấu sử dụng đất năm 2005: Đất lâm nghiệp chiếm 6.935,7 ha (68,53%), đất nông nghiệp 685,19 ha (6,77%), đất phi nông nghiệp 619,52 ha (6,12%), đất chưa sử dụng 1.879,59 ha (18,57%).

Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 hệ thống hóa các cơ sở lý luận về kinh tế du lịch, đặc điểm lao động du lịch (tính phi vật chất, tính đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng, cường độ tâm lý, tính thời vụ), vai trò của khu vực phi nông nghiệp nông thôn trong chuyển dịch kinh tế, cùng các khái niệm chuẩn mực về việc làm, thất nghiệp và các chính sách can thiệp thị trường lao động. Đồng thời, chương này mô tả chi tiết phương pháp điều tra chọn mẫu, thiết kế phiếu phỏng vấn và quy trình xử lý số liệu sơ cấp, thứ cấp.

Chương 4: Kết quả và thảo luận

Chương 4 là nội dung trọng tâm của khóa luận, phân tích chi tiết dữ liệu thực địa và số liệu thống kê:

  • Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm giai đoạn 2001 - 2005 đạt 9,5% (nông nghiệp tăng 3,42%, công nghiệp tăng 15,2%, dịch vụ tăng 22,6%). Cơ cấu kinh tế năm 2005 chuyển biến theo hướng: Nông nghiệp chiếm 42% (giảm 28% so với năm 2000), Công nghiệp chiếm 19% (tăng 7%), Dịch vụ chiếm 39% (tăng 21%). Thu nhập bình quân đầu người năm 2006 đạt khoảng 5.000.000 đồng (tăng 2,3 lần so với năm 2000).
  • Chuyển dịch cơ cấu lao động: Tỷ lệ lao động Nông - Lâm - Thủy sản giảm từ 81% (năm 2002) xuống 57,8% (6.269 người vào năm 2006); lao động Công nghiệp và Dịch vụ tăng lên 42,2% (4.577 người).
Chỉ tiêu kinh tế - lao động xã Sơn Trạch Năm 2000 / 2002 Năm 2005 / 2006 So sánh / Biến động
Tỷ trọng ngành Nông nghiệp trong GTSX 70% (2000) 42% (2005) Giảm 28%
Tỷ trọng ngành Dịch vụ trong GTSX 18% (2000) 39% (2005) Tăng 21%
Tỷ trọng ngành Công nghiệp trong GTSX 12% (2000) 19% (2005) Tăng 7%
Tỷ trọng lao động Nông - Lâm - Thủy sản 81,0% (2002) 57,8% (2006) Giảm 23,2%
Tỷ trọng lao động Công nghiệp - Dịch vụ 19,0% (2002) 42,2% (2006) Tăng 23,2%
Tỷ lệ thất nghiệp trên địa bàn xã 10,0% (2005) 10,7% (2006) Tăng 0,7%
  • Tác động tạo việc làm từ Trung tâm Du lịch Văn hóa và Sinh thái: Năm 2006, đơn vị quản lý trực tiếp 300 thợ ảnh, trên 618 thuyền trưởng/thuyền viên và gần 114 người bán hàng phục vụ khách, giải quyết việc làm cho khoảng 20,46% lực lượng lao động toàn xã.
  • Kết quả khảo sát 52 nông hộ:
    • Mức độ hưởng lợi từ du lịch: 22/52 hộ nhận định có tác động tích cực (chủ yếu là các hộ có vốn kinh doanh, dịch vụ); 6/52 hộ bị ảnh hưởng tiêu cực do quy hoạch du lịch làm giảm diện tích đất canh tác; 24/52 hộ đánh giá bình thường do sự tham gia vào du lịch không đáng kể.
    • Tình trạng khai thác rừng: 21/52 hộ khảo sát vẫn có thành viên đi rừng lấy gỗ (đặc biệt là khai thác gỗ Huê tại Đà Nẵng, Gia Lai) do giá trị kinh tế cao (gỗ Huê loại đẹp có giá lên tới 500 triệu đồng/tấn, loại thường 40 - 50 triệu đồng/tấn, trung bình mỗi chuyến đi 20 ngày thu về khoảng 2,5 triệu đồng).
  • Kết quả khảo sát 50 lao động di cư: Cơ cấu ngành nghề gồm thợ nề (30%), buôn bán (16%), làm thuê cơ sở dịch vụ (16%), kinh doanh dịch vụ (14%), thợ mộc (12%), ngành nghề khác (12%). Về quê quán: 50% đến từ các xã miền núi lân cận (Tuyên Hóa, Minh Hóa), 18% từ Nam Định (chủ yếu làm thợ mộc), 16% từ Đồng Hới. Nguyên nhân di cư chính: Kinh tế khó khăn (28%), mong muốn thu nhập cao (28%), quê nhà ít việc (18%).
  • Đánh giá các chương trình, dự án giải quyết việc làm tại địa phương: Dự án Ngân hàng Chính sách (cho vay nuôi cá, nuôi trâu bò với lãi suất 0,65%/tháng, giải quyết việc làm cho 324 người); Dự án Môi trường Toàn cầu (GEF/SGP tài trợ 4 mô hình: dịch vụ, vườn tạp, trồng rừng, chăn nuôi với lãi suất 0,7%/quý); Dự án Phát triển Cộng đồng (triển khai mô hình trồng rau sạch an toàn với 8 giống rau tại thôn Xuân Sơn); Dự án 661 (giao khoán bảo vệ 25.000 ha rừng, mức hỗ trợ 100.000 đồng/ha năm 2007).
  • Phân tích SWOT và đề xuất 04 mô hình “lồng ghép”: Lồng ghép dự án tín dụng; lồng ghép dự án đào tạo nâng cao kiến thức; lồng ghép cán bộ chuyên trách; lồng ghép tổ chức không gian du lịch.

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Chương 5 đúc kết các phát hiện nghiên cứu và đề xuất hệ thống giải pháp phân cấp cho 04 nhóm đối tượng: UBND tỉnh Quảng Bình, Cơ quan quản lý du lịch/VQG, UBND xã Sơn Trạch và người dân địa phương.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đưa ra các kết quả nghiên cứu định lượng và định tính cụ thể:

  1. Xác định mức độ chuyển biến của thị trường lao động xã Sơn Trạch sau khi Phong Nha - Kẻ Bàng trở thành Di sản Thế giới: Dù khu vực dịch vụ - du lịch đã thu hút được 1.032 lao động trực tiếp (thợ ảnh, lái thuyền, bán hàng), du lịch mới chỉ giải quyết được hơn 20% lao động địa phương và mang tính mùa vụ cao (tập trung từ tháng 3 đến tháng 9).
  2. Chỉ ra nguyên nhân kinh tế của tình trạng áp lực tài nguyên rừng: Nghiên cứu thực địa xác nhận 40,38% số hộ khảo sát (21/52 hộ) vẫn có người tham gia vào hoạt động khai thác lâm sản do thiếu việc làm phi nông nghiệp ổn định và chênh lệch lợi nhuận quá lớn từ lâm sản quý (gỗ Huê).
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp can thiệp chính sách theo 04 mô hình lồng ghép:
    • Mô hình 1: Lồng ghép các dự án tín dụng (xóa đói giảm nghèo, trang trại, trồng rừng) với chương trình giải quyết việc làm ngành du lịch nhằm hỗ trợ vốn ban đầu cho nông hộ chuyển đổi ngành nghề.
    • Mô hình 2: Lồng ghép đào tạo nghề, ngoại ngữ, văn hóa ứng xử du lịch gắn với nhu cầu thực tế của Ban Quản lý VQG và các cơ sở lưu trú.
    • Mô hình 3: Lồng ghép đội ngũ cán bộ chuyên trách cấp xã trong việc điều phối các dự án phát triển và giải quyết việc làm.
    • Mô hình 4: Lồng ghép không gian du lịch liên kết 4 cụm trọng điểm của tỉnh (Phong Nha - Kẻ Bàng, TP. Đồng Hới, Vũng Chùa - Đảo Yến, suối khoáng nóng Bang) và tuyến hành lang kinh tế đường 12 sang Lào, Thái Lan.
  4. Đóng góp thực tiễn: Khóa luận là công trình khảo sát vi mô cung cấp dữ liệu thực tế về đời sống nông hộ vùng đệm Vườn Quốc gia tại thời điểm chuyển giao kinh tế giai đoạn 2001 - 2007, làm rõ mối liên hệ giữa sinh kế bền vững và công tác bảo tồn di sản.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận bộc lộ một số hạn chế do điều kiện nghiên cứu tại thời điểm thực hiện:

  • Quy mô mẫu khảo sát sơ cấp còn ở mức khiêm tốn ($n = 52$ hộ nông dân, $n = 50$ người di cư, $n = 53$ du khách), phạm vi khảo sát tập trung chủ yếu ở khu vực trung tâm xã Sơn Trạch, chưa bao quát sâu các bản vùng sâu như bản Rào Con của đồng bào Vân Kiều.
  • Thời gian nghiên cứu thực địa ngắn (tháng 04/2007 đến tháng 07/2007), trùng với mùa cao điểm du lịch nên chưa phản ánh hết biến động việc làm và đời sống cư dân trong các tháng mùa mưa lũ (tháng 9 đến tháng 3 năm sau).

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng đánh giá chuỗi giá trị và sự phân chia lợi ích kinh tế từ du lịch giữa doanh nghiệp bên ngoài, lao động nhập cư và cộng đồng bản địa.
  • Nghiên cứu mô hình sinh kế thay thế toàn diện cho nhóm đối tượng chuyên đi rừng khai thác lâm sản trái phép.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn đối với:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Phát triển Nông thôn, Khuyến nông, Kinh tế Nông nghiệp, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Địa lý Kinh tế - Xã hội khi thực hiện các đề tài nghiên cứu về sinh kế vùng đệm và chuyển đổi lao động nông thôn.
  • Cán bộ quản lý cấp cơ sở tại các địa phương có di sản hoặc khu bảo tồn thiên nhiên, tham khảo các phiếu điều tra xã hội học (Phụ lục 1 và Phụ lục 2) và phương pháp xây dựng ma trận SWOT phục vụ hoạch định chính sách giải quyết việc làm.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu kinh tế xã Sơn Trạch thay đổi như thế nào trong giai đoạn 2000 - 2005?
Trong giai đoạn 2000 - 2005, tỷ trọng ngành nông nghiệp trong tổng giá trị sản xuất giảm mạnh từ 70% xuống còn 42% (giảm 28%); tỷ trọng ngành dịch vụ tăng từ 18% lên 39% (tăng 21%); ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 12% lên 19% (tăng 7%). Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm giai đoạn 2001 - 2005 đạt 9,5%.

2. Lực lượng lao động địa phương tham gia trực tiếp vào du lịch do Trung tâm Du lịch Văn hóa và Sinh thái quản lý năm 2006 có quy mô ra sao?
Năm 2006, Trung tâm quản lý 300 thợ chụp ảnh, trên 618 thuyền trưởng/thuyền viên vận chuyển khách và gần 114 người tham gia bán hàng lưu niệm, phục vụ dịch vụ. Tổng cộng lực lượng này giải quyết việc làm cho khoảng 20,46% số người trong độ tuổi lao động của toàn xã.

3. Tại sao một bộ phận người dân xã Sơn Trạch vẫn duy trì việc vào rừng khai thác gỗ trái phép?
Theo kết quả khảo sát 52 hộ dân, có 21 hộ vẫn có người đi khai thác gỗ rừng (chủ yếu là gỗ Huê). Nguyên nhân là do tính thời vụ của ngành du lịch khiến việc làm không liên tục, trong khi khai thác gỗ Huê đem lại thu nhập rất cao (giá gỗ Huê loại đẹp đạt 500 triệu đồng/tấn, loại thường 40 - 50 triệu đồng/tấn; một chuyến đi rừng 20 ngày có thể thu được khoảng 2,5 triệu đồng).

4. Lao động di cư đến xã Sơn Trạch hoạt động trong những ngành nghề nào và đến từ đâu?
Khảo sát trên 50 người nhập cư cho thấy: 30% làm thợ nề xây dựng, 16% buôn bán, 16% làm thuê tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ, 14% trực tiếp kinh doanh dịch vụ và 12% làm thợ mộc. Về quê quán, 50% xuất thân từ các xã miền núi trong tỉnh (Tuyên Hóa, Minh Hóa), 18% đến từ tỉnh Nam Định (chuyên nghề mộc) và 16% từ thành phố Đồng Hới.

5. Bốn mô hình “lồng ghép” được tác giả đề xuất để giải quyết việc làm gồm những nội dung gì?
Tác giả đề xuất: (1) Lồng ghép các dự án tín dụng ưu đãi với chương trình vay vốn tạo việc làm du lịch; (2) Lồng ghép dự án đào tạo nghề, bồi dưỡng ngoại ngữ và kỹ năng giao tiếp văn hóa du lịch; (3) Lồng ghép cán bộ chuyên trách cấp huyện/xã để quản lý đồng bộ các chương trình mục tiêu; (4) Lồng ghép tổ chức không gian phát triển du lịch liên vùng trong tỉnh và liên kết quốc tế qua tuyến đường 12.

Kết luận

Khóa luận của Hoàng Thị Xuân đã phân tích một cách có hệ thống thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế và biến động lao động tại xã vùng đệm Sơn Trạch dưới tác động của sự phát triển du lịch Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng giai đoạn 2001 - 2006. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù du lịch đã góp phần nâng cao thu nhập bình quân và mở ra các ngành nghề phi nông nghiệp, khả năng giải quyết việc làm tại chỗ vẫn chưa đồng đều, mang tính thời vụ và chưa triệt tiêu được sức ép khai thác tài nguyên rừng. Hệ thống 04 mô hình giải pháp lồng ghép do tác giả đề xuất cung cấp cơ sở thực tiễn hữu ích cho công tác quản trị sinh kế nông thôn gắn liền với mục tiêu bảo tồn di sản bền vững.