Mở đầu, phần nội dung, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục. Phần nội dung của luận văn gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách trợ giúp xã hội đối với ngƣời khuyết tật Chƣơng 2: Thực trạng thực hiện chính sách trợ giúp xã hội đối với ngƣời khuyết tật trên địa bàn huyện Mê Linh, TP.Hà Nội Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách trợ giúp xã hội đối với ngƣời khuyết tật trong thời gian tới trên địa bàn huyện Mê Linh, TP.Hà Nội 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƢỜI KHUYẾT TẬT 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGƢỜI KHUYẾT TẬT 1. Khái niệm khuyết tật và người khuyết tật 1.
Khái niệm khuyết tật Trên thế giới, có rất nhiều quan niệm khác nhau về khuyết tật dựa trên những bối cảnh khác nhau. Theo quan điểm của tổ chức Quốc tế của ngƣời khuyết tật: “Khuyết tật là một hiện tƣợng phức tạp, phản ánh sự tƣơng tác giữa các tính năng cơ thể và các tính năng xã hội mà trong đó ngƣời khuyết tật sống” Theo Công ƣớc Quốc tế về quyền của ngƣời khuyết tật: “Sự khuyết tật là sự giới hạn hoặc mất mát các cơ hội tham gia vào các sinh hoạt bình thƣờng của cộng đồng trong sự bình đẳng với những ngƣời khác do những rào cản về kinh tế, xã hội và môi trƣờng; khuyết tật là một khái niệm có tính phát triển, là những kết quả từ sự tƣơng tác của những ngƣời có khiếm khuyết với những rào cản trong thái độ và môi trƣờng. Khuyết tật đã gây cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội dựa trên nền tảng bình đẳng với những ngƣời khác”. Tại Việt Nam, từ khuyết tật theo cuốn Từ điển Tiếng Việt: từ “khuyết” có nghĩa là không đầy đủ, thiếu một bộ phận, một phần.
Còn từ “tật” có nghĩa là “điều gì đó không bình thƣờng, ít nhiều khó chữa ở vật liệu, dụng cụ, máy móc. Còn ở ngƣời là sự bất thƣờng, nói chung không thể chữa đƣợc, của một cơ quan trong cơ thể do bẩm sinh mà có, hoặc do tai nạn hay bệnh gây ra”. Khái niệm người khuyết tật Tùy bối cảnh, giai đoạn mà mỗi quốc gia lại có những quan niệm khác nhau về ngƣời khuyết tật. 11 Công ƣớc số 159 của ILO về phục hồi chức năng lao động và việc làm của ngƣời khuyết tật (năm 1983), khoản 1, Điều 1 quy định: “Ngƣời khuyết tật dùng để chỉ một cá nhân mà khả năng có một việc làm phù hợp, trụ lâu dài với công việc đó và thăng tiến với nó bị giảm sút đáng kể do hậu quả của một khiếm khuyết về thể chất và tâm thần đƣợc thừa nhận” Công ƣớc về Quyền của ngƣời khuyết tật của Liên hợp quốc (năm 2006), Điều 1 quy định: “Ngƣời khuyết tật bao gồm những ngƣời bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hƣởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của ngƣời khuyết tật vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những ngƣời khác”.
Ở Đức, sách số 9 của Bộ luật xã hội định nghĩa: “Ngƣời khuyết tật là ngƣời có các chức năng về thể lực, trí lực hoặc tâm lý tiến triển không bình thƣờng so với ngƣời có cùng độ tuổi trong thời gian trên 6 tháng và sự không bình thƣờng này là nguyên nhân dẫn đến việc họ bị hạn chế tham gia vào cuộc sống xã hội” Luật bình đẳng về việc làm của Nam phi định nghĩa ngƣời khuyết tật là “Ngƣời bị suy giảm khả năng về thể lực hoặc trí lực trong một thời gian dài hoặc tiếp diễn nhiều lần, khiến ngƣời đó bị hạn chế đáng kể về khả năng tham gia hoặc phát triển nghề nghiệp”. Đạo luật về ngƣời khuyết tật của Hoa Kỳ năm 1990 (ADA – Americans with Disabilities Act of 1990) định nghĩa “ngƣời khuyết tật là ngƣời có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hƣởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống”. Cũng theo ADA những ví dụ cụ thể về khuyết tật bao gồm: khiếm khuyết về vận động, thị giác, nói và nghe, chậm phát triển tinh thần, bệnh cảm xúc và những khiếm khuyết cụ thể về học tập, bại não, động kinh, teo cơ, ung thƣ, bệnh tim, tiểu đƣờng, các bệnh lây và không lây nhƣ bệnh lao và bệnh do HIV (có triệu chứng hoặc không có triệu chứng). 12 Ngày 17/6/2010, Quốc hội Việt Nam đã thông qua luật Ngƣời khuyết tật, có hiệu lực từ 01/01/2011, chính thức sử dụng khái niệm “ngƣời khuyết tật” thay cho khái niệm “ngƣời tàn tật”, phù hợp với khái niệm và xu hƣớng nhìn nhận của thế giới về vấn đề khuyết tật.
Theo quy định tại khoản 1, Điều 2 của Luật này thì “Ngƣời khuyết tật là ngƣời bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng đƣợc biểu hiện dƣới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn.” Theo cách hiểu này thì ngƣời khuyết tật bao gồm cả những ngƣời bị khuyết tật bẩm sinh, ngƣời bị khiếm khuyết do tai nạn, thƣơng binh, bệnh binh,…Nhƣ vậy, luật Ngƣời khuyết tật Việt Nam đã đƣa ra khái niệm ngƣời khuyết tật dựa vào mô hình xã hội, tuy nhiên còn chung chung so với khái niệm trong Công ƣớc về quyền của ngƣời khuyết tật. Trong quá trình xây dựng Luật Ngƣời khuyết tật năm 2010, từ “Khuyết tật” đƣợc khuyến nghị dùng để thay thế từ “ Tàn tật” trong các luật. Tuy nhiên, dù các cách diễn đạt khác nhau nhƣng các quan điểm đều phản ánh đƣợc một thực tế đó là ngƣời khuyết tật là những ngƣời bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận trên cơ thể, và họ có thể gặp các rào cản do các yếu tố xã hội, môi trƣờng hoặc con ngƣời khi tham gia vào các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội. Nhƣ vậy, có nhiều cách hiểu khác nhau về “Ngƣời khuyết tật” và trong nghiên cứu này, tôi lựa chọn cách hiểu về ngƣời khuyết tật theo quy định của Luật Ngƣời khuyết tật tại Việt Nam.
Phân loại các dạng khuyết tật Theo Điều 3 - Luật Ngƣời khuyết tật năm 2010 và Điều 2 - Nghị định số 28/2012/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10 tháng 4 năm 2012, gồm các dạng khuyết tật sau: - Khuyết tật vận động: Là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển. 13 - Khuyết tật nghe, nói: Là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, nói hoặc cả nghe và nói, phát âm thành tiếng và câu rõ ràng dẫn đến hạn chế trong giao tiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói. - Khuyết tật nhìn: Là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điền kiện ánh sáng và môi trƣờng bình thƣờng. - Khuyết tật thần kinh, tâm thần: Là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất thƣờng.
- Khuyết tật trí tuệ: Là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tƣ duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tƣợng, giải quyết sự việc. - Khuyết tật khác: Là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể khiến cho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không thuộc các trƣờng hợp đã nêu trên. Ngoài ra, ngƣời khuyết tật theo mức độ khuyết tật bao gồm: - Ngƣời khuyết tật đặc biệt nặng là ngƣời do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày; - Ngƣời khuyết tật nặng là ngƣời do khuyết tật dẫn đến không thể thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày; - Ngƣời khuyết tật nh là ngƣời khuyết tật không thuộc trƣờng hợp quy định tại hai điểm nói trên. Nguyên nhân khuyết tật Khuyết tật bắt nguồn từ rất nhiều nguyên nhân, chúng ta có thể phân loại khuyết tật theo các nhóm nguyên nhân sau đây.
Những nguyên nhân do môi trường sống: - Điều kiện ăn ở thiếu thốn, mất vệ sinh; - Ô nhiễm và suy thoái môi trƣờng, thiên tai; 14 - Nhiễm độc do sử dụng thuốc chữa bệnh bừa bãi; - Chấn thƣơng do tai nạn, rủi ro; - Các cuộc chiến tranh và bạo lực; - Thay đổi chế độ ăn uống và hoàn cảnh sống. Những nguyên nhân do xã hội: - Kết hôn trực hệ (cùng huyết thống) gây biến đổi về di truyền; - Sự bất lực của y học và khoa học kĩ thuật; - Sự kỳ thị, phân biệt đối xử của xã hội; - Mù chữ, thiếu hiểu biết về các dịch vụ y tế sẵn có. Những nguyên nhân do bẩm sinh và trong khi sinh: - Di truyền: lỗi nhiễm sắc thể, lỗi gen gây dị tật bẩm sinh chẳng hạn nhƣ hội chứng Đao, sai lệch nhiễm sắc thể trong quá trình phân bào. - Do các yếu tố ngoại sinh nhƣ lây nhiễm rubella, giang mai, HIV; do nhiễm độc một số thực phẩm do ngƣời m dùng nhƣ thuốc chống động kinh, các chất có cồn rƣợu; hoặc suy dinh dƣỡng ở ngƣời m hoặc thiếu Iốt trong bữa ăn hàng ngày.
Một số nguyên nhân khác nhƣ: thiếu oxy, thời gian sinh quá lâu, trẻ không thở hoặc không khóc ngay sau khi sinh; lây nhiễm trong khi sinh và đẻ non cũng là những nguyên nhân gây ra hiện tƣợng khuyết tật sau này. Đặc điểm của người khuyết tật Ngƣời khuyết tật trƣớc hết là những con ngƣời nên họ mang những đặc điểm chung về mặt kinh tế – xã hội, đặc điểm tâm sinh lý nhƣ mọi ngƣời khác trong xã hội. Tuy nhiên, với những đặc điểm riêng về từng dạng khuyết tật nên nhóm ngƣời khuyết tật nói chung lại có những nét đặc thù so với nhóm ngƣời không khuyết tật và mỗi nhóm ngƣời khuyết tật dạng này lại có nét đặc thù tƣơng đối so với nhóm ngƣời khuyết tật dạng khác. Về phƣơng diện pháp lý, làm rõ các đặc điểm của ngƣời khuyết tật là một trong những cơ sở, căn cứ khoa học tác động đến việc quy định, ban 15 hành, thực thi, áp dụng pháp luật và chính sách với ngƣời khuyết tật.