Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KHU KINH TẾ CỬA KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TÂY NINH 1. Các khái niệm cơ bản Chính sách và chính sách công Chính sách được hiểu là những tư tưởng, những định hướng, những mong muốn cần hướng tới, cần đạt được. Chính sách là sự thể hiện cụ thể của đường lối chính trị chung. Dựa vào đường lối chính trị chung, cương lĩnh chính trị của đảng cầm quyền mà người ta định ra chính sách.
[19] Theo nghĩa rộng, chính sách được hiểu là kết quả của việc cụ thể hóa chủ trương, đường lối của đảng cầm quyền thành các quyết định, tập hợp các quyết định chính trị có liên quan với nhau, với mục tiêu, giải pháp, công cụ, cụ thể nhằm giải quyết các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, duy trì sự tồn tại và phát triển của nhà nước và xã hội, phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội hướng tới mục tiêu là phục vụ người dân. Theo nghĩa hẹp, chính sách là công cụ hữu hiệu để nhà nước quản lý, định hướng và thúc đẩy sự phát triển chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi quốc gia trong những giai đoạn nhất định. Như vậy, chính sách công là một tập hợp các quyết định liên quan với nhau do nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu phát triển. Hồ Việt Hạnh, chính sách công là những quyết định của chủ thể được trao quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề vì lợi ích chung của cộng đồng [12].
Theo Đỗ Phú Hải (2014), chính sách công là tập hợp các quyết định chính trị của một nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện để giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu đã xác định của đảng chính trị cầm quyền [11]. 11 Chính sách công không đơn giản là sự ghép từ. Nói đến chính sách công tức là nói đến ba vấn đề cơ bản: chủ thể ban hành chính sách; mục tiêu của chính sách; và vấn đề chính sách hướng tới giải quyết. Chính sách công biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau như luật, nghị định, thông tư, hướng dẫn hoặc các quan điểm định hướng trong dài hạn.
Khu kinh tế cửa khẩu KKTCK ở Việt Nam là một không gian kinh tế xác định, gắn với cửa khẩu quốc tế hay cửa khẩu chính của quốc gia, có dân cư sinh sống và được áp dụng những cơ chế, chính sách phát triển đặc thù, phù hợp với đặc điểm từng địa phương sở tại nhằm mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội (KT-XH) cao nhất dựa trên việc quy hoạch, khai thác, sử dụng, phát triển bền vững các nguồn lực, do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Chính sách phát triển khu kinh tế cửa khẩu ở Việt Nam Đảng và Nhà nước ta đặc biệt coi trọng việc phát triển KKTCK đối với các tỉnh có vị trí tiếp giáp các nước láng giềng là Trung Quốc, Lào, và Campuchia để phát triển kinh tế, tăng cường giao lưu thương mại với các nước bạn. Việt Nam tham gia các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật, bao gồm cả các chính sách kinh tế, thương mại biên giới. Nhu cầu mở rộng hoạt động của các nước thuộc Tiểu vùng Mekong ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của KKTCK.
Quyết định số 52/2008/QĐ-TTg ngày 25/4/2008 đã phê duyệt Đề án Quy hoạch phát triển các KKTCK của Việt Nam đến năm 2020, cả nước có 26 KKTCK với tổng diện tích trên 660 nghìn ha. Việc quản lý các KKTCK được thực hiện theo nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương dưới sự chỉ đạo thống nhất của Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ ra quyết định về chính sách đối với KKTCK. Bộ Tài chính ra thông tư hướng dẫn thi hành chính sách tài chính áp 12 dụng cho các KKTCK biên giới.
Các bộ, ngành liên quan chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành các chính sách liên quan đến KKTCK. KTCK đầu tiên được hình thành ở Việt Nam là KKTCK Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh theo Quyết định 675/TTg ngày 18/9/1996 của Thủ tướng Chính phủ. Hai năm sau, Việt Nam bắt đầu thí điểm ở quy mô lớn hơn với việc phê duyệt chính sách ưu đãi cho KKTCK Mộc Bài, tỉnh Tây Ninh và Khu Thương mại Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị. Tháng 9 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép thành lập KKTCK Xa Mát, tỉnh Tây Ninh.
Tháng 10 năm 2005, Chính phủ chính thức cho phép thành lập khu bảo thuế trong KKTCK, cam kết sẽ hỗ trợ có mục tiêu cho ngân sách địa phương trong, công tác phát triển cơ sở hạ tầng của KKTCK. Khu bảo thuế là một khu vực cách biệt với các khu vực khác trong KKTCK, có đặt trạm Hải quan để giám sát, kiểm tra hàng hoá ra vào và được áp dụng các ưu đãi về thuế theo quy định tại chương II của QĐ 446/2003/QĐ-BTM do Bộ Tài chính ban hành ngày 17/4/2003. Từ đó đến nay, nhiều KKTCK đã được thành lập dọc đường biên giới với các nước láng giềng nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội quan trọng của đất nước. Cuối năm 2015, Chính phủ Việt Nam đã lựa chọn 9 KKTCK trọng điểm để tập trung đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2016 - 2020 gồm: KKTCK Móng Cái; KKTCK Đồng Đăng; KKTCK Lào Cai; KKTCK Cầu Treo; KKTCK Bờ Y; KKTCK Lao Bảo; KKTCK Mộc Bài; KKTCK Đồng Tháp; KKTCK An Giang.
- Về phát triển các KKTCK với Trung Quốc: Trong những năm qua, phát huy lợi thế có chung đường biên giới với Trung Quốc, 7 tỉnh biên giới Việt Nam là Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu và Điện Biên đã chủ động hợp tác phát triển kinh tế với các tỉnh biên giới của Trung Quốc là Vân Nam và Quảng Tây. 13 Nhiều KKTCK đã được xây dựng ở 07 tỉnh biên giới này với Trung Quốc, trong đó phát triển mạnh nhất là KKTCK Móng Cái (Quảng Ninh), KKTCK Đồng Đăng (Lạng Sơn), và KKTCK Lào Cai. Nhờ sự phát triển mạnh mẽ các KKTCK này mà hạ tầng cơ sở và hạ tầng xã hội tại các tỉnh này đã được chú trọng đầu tư phát triển đồng bộ. Hoạt động giao thương, trao đổi buôn bán của các KKTCK qua biên giới diễn ra sôi động, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy phát triển KT-XH các khu vực biên giới.
- Về phát triển các KKTCK với Lào: Lào được coi là đối tác thương mại truyền thống và quan trọng đặc biệt đối với Việt Nam. Trong các KKTCK với Lào, Khu kinh tế - thương mại đặc biệt Lao Bảo không chỉ tạo thuận lợi thương mại mà còn thu hút đầu tư từ trong nước và nước ngoài vào khu vực này. Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt coi trọng việc phát triển các KKTCK với Lào nhằm tăng cường giao thương giữa hai nước. Tuy nhiên, thực tiễn việc phát triển các KKTCK với Lào còn chưa tương xứng với tiềm năng và mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước do còn gặp rất nhiều khó khăn về cơ sở hạ tầng kết nối giao thông đường bộ do địa hình phức tạp, nhiều rừng núi và dân cư thưa thớt.
- Về phát triển các KKTCK với Campuchia: Hầu hết khu vực biên giới giữa hai nước có địa hình bằng phẳng là một thuận lợi, nhưng điều kiện KT- XH của một số tỉnh biên giới Việt Nam - Campuchia còn nhiều khó khăn do hệ thống cơ sở hạ tầng và hạ tầng xã hội còn chưa đồng bộ. Hệ thống chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong KKTCK ở biên giới Việt Nam - Campuchia chủ yếu có quy mô nhỏ, còn nhiều chợ tạm phục vụ nhu cầu mua bán nhỏ lẻ của người dân biên giới. Hơn nữa, các KKTCK giữa Việt Nam và Campuchia cũng chưa nhiều, chỉ có KKTCK Mộc Bài là lớn nhất. 14 Các KKTCK ở Việt Nam về cơ bản có các đặc trưng sau: các KKTCK cách xa trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của đất nước; dân cư tại các KKTCK với dân cư địa phương lân cận của các nước láng giềng có nhiều điểm tương đồng về văn hóa, tín ngưỡng và tôn giáo; có sự khác biệt về trình độ phát triển kinh tế, xã hội, môi trường và chất lượng cuộc sống; hợp tác và giao lưu kinh tế dựa trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của nhau, bình đẳng các bên cùng có lợi [13].
Mục tiêu của chính sách phát triển các khu kinh tế cửa khẩu Các KKTCK được hình thành nhằm phát huy lợi thế về quan hệ kinh tế - thương mại cửa khẩu biên giới, thu hút các kênh hàng hoá, đầu tư, thương mại, dịch vụ và du lịch từ các nơi trong cả nước từ nước ngoài vào nội địa thông qua cơ chế chính sách ưu đãi tại các KKTCK. Cụ thể: - Giúp cho các ngành, các địa phương trong cả nước, tùy theo quy mô, sự hấp dẫn của cơ chế chính sách ưu đãi thực hiện sự chuyển dịch sản xuất, lưu thông hàng hoá cho phù hợp. Bên cạnh đó, khi mô hình KKTCK được phát huy tốt sẽ tạo ra sự lưu thông hàng hoá giữa trong và ngoài nước nhằm khai thác thị trường rộng lớn của nước bạn. - Có vai trò kích thích đối với nền kinh tế hàng hoá chậm phát triển, thị trường còn nhỏ hẹp, sức mua thấp, khả năng cạnh tranh trước mắt của nền kinh tế còn hạn chế như Việt Nam.
- Việc hình thành KKTCK đã làm phong phú thêm tính đa dạng hóa của các loại hình khu kinh tế như khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế mở; hình thành một mô hình phát triển kinh tế nhằm khơi dậy và phát huy tiềm năng của địa bàn có điều kiện đặc thù là có các cửa khẩu. - KKTCK thu hút đầu tư không chỉ từ các nhà đầu tư trong nước mà cả các nhà đầu tư nước ngoài, góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra một hệ thống cơ sở hạ tầng mới, hiện đại, có giá trị lâu dài ở địa phương. 15 - KKTCK còn góp phần làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, qua đó nâng cao được tỉ lệ tích luỹ đầu tư cho tương lai, nâng cao đời sống của đồng bào vùng biên giới thông qua tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng KKTCK, nâng cao dân trí đồng bào khu vực biên giới.