Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm cán bộ, công chức Theo Luật CB,CC số 22/2008/QH12 năm 2008, tại Khoản 1, Điều 4 định nghĩa về cán bộ rằng: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [43]. Luật CB,CC số 22/2008/QH12 năm 2008, Tại Khoản 2, Điều 4 định nghĩa về công chức như sau: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [43].
Cán bộ huyện gồm các chức vụ Đảng và chính quyền như sau: -Cơ quan Đảng gồm: Bí thư và Phó Bí thư Huyện ủy; - Cơ quan chính quyền bao gồm: + Chủ tịch và Phó Chủ tịch và Thường trực HĐND huyện; + Chủ tịch và Phó Chủ tịch UBND huyện; 10 + Chủ tịch và Phó Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam huyện; + Bí thư và Phó Bí thư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện; + Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam huyện; + Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam huyện; + Chủ tịch và Phó Chủ tịch Liên đoàn Lao động huyện; + Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam huyện. - Công chức huyện gồm các chức danh sau: + Đối với cơ quan đảng: “người giữ chức vụ, chức danh người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu và người làm việc trong văn phòng, cơ quan ủy ban kiểm tra, các ban của Huyện ủy” [19]; + Đối với cơ quan hành chính: “Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng và người làm việc trong Văn phòng HĐND và UBND”; “Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng và người làm việc trong văn phòng UBND huyện nơi thí điểm không tổ chức HĐND”; “Người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong cơ quan chuyên môn thuộc UBND”[19]; + Đối với cơ quan Tòa án: “Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện; Thẩm phán tòa án nhân dân cấp huyện; thư ký tòa án; người làm việc trong tòa án nhân dân cấp huyện”[19]; + Đối với cơ quan Viện kiểm sát Nhân dân: “Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện; kiểm sát viên, điều tra viên và người làm việc trong Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện”[19]; + Đối với cơ quan của tổ chức chính trị - xã hội: “Người làm việc trong cơ quan của các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức tương đương” [19]. Theo quy định tại Điều 61, Luật CB,CC năm 2008. Chức vụ, chức danh CB,CC cấp xã, gồm các chức vụ, chức danh sau đây: - Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây: + Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ; + Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND; + Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân; + Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam; 11 + Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; + Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; + Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; + Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam.
- Công chức cấp xã có các chức danh sau đây: “+ Trưởng Công an; + Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy Quân sự; + Văn phòng - thống kê; + Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); + Tài chính - kế toán; + Tư pháp - hộ tịch; + Văn hóa - xã hội”[43]. Yêu cầu đối với CB,CC là phải không ngừng rèn luyện phẩm chất đạo đức, học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực công tác để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Công tác cán bộ phải đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của các cấp ủy đảng, đảm bảo tính dân chủ, phát huy trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức, cơ quan đơn vị. Khái niệm về chính sách, chính sách công Thuật ngữ “Chính sách” được sử dụng rộng rãi trong các sách báo, các công trình nghiên cứu, bài viết, tài liệu cũng như trên các phương tiện thông tin truyền thông và xuất hiện cả trong đời sống xã hội.
Theo Từ điển Tiếng Anh (Oxford English Dictionary) “chính sách” là “một đường lối hành động được thông qua và theo đuổi bởi chính quyền, đảng, nhà cai trị, chính khách. Theo Hugh Heclo (năm 1972): Chính sách có thể được xem như là một đường lối hành động hoặc không hành động thay vì những quyết định hoặc hành động cụ thể; Smith (năm 1976) cho rằng: “khái niệm chính sách bao hàm sự lựa chọn có chủ định hành động hoặc không hành động, thay vì những tác động của các lực lượng có quan hệ với nhau”. Trong khi đó, có một quan niệm lại cho rằng: chính sách là những hành động được đặt trong sự tính toán của chủ thể với đối 12 tượng quản lý của chủ thể đó theo các hướng khác nhau (đồng thuận hay phản đối). Chính sách được cấu thành từ 3 yếu tố bao gồm: quan điểm và định hướng; biện pháp, các công cụ thực hiện; mục tiêu chính sách.
Khái niệm Chính sách công ở nước ta trong một vài năm trở lại đây đã được các nhà khoa học nghiên cứu và cũng đã đưa ra một vài quan niệm như: “Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của Nhà nước thể hiện qua hệ thống các quyết định, trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết các vấn đề công trong xã hội”[37]. “Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị của nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ nhằm thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu đã định trước” [31]. “ Chính sách công là những quyết định của chủ thể được trao quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề lợi ích chung của cộng đồng” [36]. Từ những khái niệm nêu trên, ta có thể hiểu: Chính sách công là sự lựa chọn hành động của Nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau do Nhà nước ban hành nhằm tác động lên đối tượng cụ thể để giải quyết một vấn đề công trong đời sống kinh tế - xã hội để đạt được mục tiêu nhất định.
Khái niệm về chính sách phát triển cán bộ, công chức Chính sách phát triển cán bộ, công chức là quan điểm, là các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước với mục tiêu, giải pháp cụ thể nhằm xây dựng đội ngũ CB,CC có đủ trình độ năng lực chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất chính trị, đạo đức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh và phục vụ đắc lực cho người dân. Chính sách phát triển CB,CC thể hiện trong các văn bản của Đảng, Nhà nước nhằm điều chỉnh quá trình hoạt động, quy định những quyền lợi và nghĩa vụ của CB,CC phù hợp với đặc điểm của đời sống kinh tế - xã hội; là một trong những công cụ để Nhà nước quản lý, sử dụng và phát triển đội ngũ CB,CC đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước; là cơ sở để định hướng mọi hoạt động và hành vi của CB,CC và các tổ chức, cá nhân có liên quan. 13 Như vậy, chính sách phát triển cán bộ, công chức là các quyết định của Nhà nước nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện khác nhau nhằm giải quyết các vấn đề của CB,CC theo mục tiêu đã xác định. Chính sách phát triển CB,CCbao gồm: xác định mục tiêu, xây dựng và thực hiện chính sách; được tiến hành bởi cơ quan, tổ chứccó thẩm quyền nhằm xây dựng một đội ngũ CB,CC có chất lượng và cơ cấu hợp lý, có phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra.
Lý luận chung về chính sách phát triển cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay Từ khi đổi mới, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết về đổi mới và nâng cao chất lượng ,hiệu quả trong công tác phát triển CBCC, đã tổ chức chỉ đạo và xây dựng các chiến lược phát triển cán bộ trong thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh CNH- HDH và hội nhập quốc tế. Trong các văn kiện của Đảng tại các kỳ Đại hội X, XI, XII của Đảng, các cương lĩnh và chiến lược đều nêu rõ tầm quan trọng của công tác tổ chức và chất lượng cán bộ, xem con người là chủ thể, là trung tâm của đổi mới và phát triển. Phát triển bền vững còn người được xem là mục tiêu xuyên suốt trong quan điểm phát triển KT-XH (2011-2020). Các chiến lược phát triển đã chỉ ra các điểm nghẽn và đưa ra các đột phá để phát triển như: Đột phá về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường lành mạnh, công bằng để phát triển sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như đảm bảo chất lượng cuộc sống của người dân; đột phá về đầu tư hạ tầng – kỹ thuật để thu hút đầu tư, đổi mới mô hình sản xuất kinh doanh từ chiều rộng sang chiều sâu; đặc biệt là đột phá về phát triển nguồn nhân lực.
Đảng ta luôn nhất quán quan điểm xem con người là nhân tố quan trọng. Đây được xem là nhân tố quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa quyết định trong chiến lược phát triển con người Việt Nam.