Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO THEO CHUẨN NGHÈO TIẾP CẬN ĐA CHIỀU 1. Khái niệm chuẩn nghèo theo tiếp cận đa chiều 1. Khái niệm chuẩn nghèo Khái niệm nghèo trên thế giới Theo Ủy ban Kinh tế xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dương cho rằng: “Nghèo là một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển KT - XH phong tục tập quán của địa phương” [13]. Theo báo cáo tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen Đan Mạch năm 1995 đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo như sau: "Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới một đô la (1$) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm cần thiết để tồn tại" [13].
Theo nhóm nghiên cứu của Chương trình phát triển liên hợp quốc (UNDP), Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA), Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) trong công trình "Xoá giảm nghèo ở Việt Nam - 1995" đã đưa ra định nghĩa: “Nghèo là tình trạng thiếu khả năng trong việc tham gia vào đời sống quốc gia, nhất là tham gia vào lĩnh vực kinh tế” [9]. Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra quan niệm: “Nghèo không chỉ bao hàm sự khốn cùng về vật chất được đo lường theo một khái niệm thích hợp về thu nhập và tiêu dùng mà còn là sự hưởng thụ thiếu thốn về y tế” [9]. Như vậy, nghèo còn đẫn đến cả nguy cơ dễ bị tổn thương, dễ gặp rủi ro trong cuộc sống. Báo cáo chỉ rõ: “Nghèo có nghĩa là không có nhà cửa quần áo, ốm đau không có ai chăm sóc, mù chữ và không được đến trường” [9].
Đương nhiên: “Người nghèo đặc biệt là dễ bị tổn thương trước những biểu hiện bất lợi nằm ngoài khả e 10 năng kiểm soát của họ. Họ thường bị các thể chế của Nhà nước và xã hội đối xử tàn tệ, bị gạt ra rìa và không có tiếng nói quyền lực trong các thể chế đó” [9]. Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về nghèo, nhưng nhìn chung các quan niệm đó đều được phản ánh trên các khía cạnh. Nghèo là không có hoặc ít được hưởng thụ những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu của cuộc sống con người, mức sống thấp hơn mức trung bình của cộng đồng dân cư địa phương, thiếu hoặc không có cơ hội lựa chọn để tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng, của tập thể.
Khái niệm nghèo ở Việt Nam Trên cơ sở quan niệm về nghèo trên thế giới, Việt Nam đã đưa ra khái niệm nghèo và chuẩn nghèo. Từ việc nhận thức được tầm quan trọng trong công tác xóa đói giảm nghèo, nên chính phủ đã có nhiều nỗ lực trong hoạt động này cả phương diện nhận thức và hành động, trong đó có việc thống nhất khái niệm đói nghèo: “Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận, tuỳ theo trình độ phát triển KT - XH và phong tục tập quán của từng địa phương” [14]. Việt Nam đã thừa nhận khái niệm đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993. Như vậy, nghèo được xác định trên nhiều phương diện: Về thu nhập, đa số những người nghèo thường làm những công việc thủ công, lao động chân tay đơn giản ít được đào tạo, nhiều và nặng nhọc, nhưng thu nhập thấp.
Đó là những công việc bấp bênh, không ổn định, phụ thuộc vào thời vụ và có tính rủi ro cao do liên quan nhiều đến thời tiết. Do thu nhập thấp nên chi tiêu cho cuộc sống là rất hạn chế. Hầu hết các nhu cầu cơ bản, tối thiểu của con người như ăn, mặc, chỗ ở chỉ được đáp ứng với mức độ tối thiểu, thậm chí còn không đủ. Điều này đã kéo theo hàng loạt các vấn đề khác như làm giảm sức khoẻ, năng suất lao động thấp, thu nhập không ổn định.
e 11 Về y tế - giáo dục, vì không được chăm sóc chu đáo nên những người nghèo dễ có nguy cơ mắc phải các bệnh tật, bệnh hiểm nghèo, bệnh do tai nạn lao động. Người nghèo thường không được sử dụng nguồn nước sạch, vệ sinh môi trường hạn chế, ít tiếp cận các dịch vụ y tế do không có khả năng chi trả cho các dịch vụ này. Bên cạnh đó, do nhận thức của người nghèo, họ thường ít quan tâm đến bệnh tật của mình, chỉ đến khi bệnh trở nên trầm trọng họ mới vào viện. Vì vậy, việc điều trị đem lại hiệu quả không cao, lại còn chi phí nhiều hơn.
Thường là người yếm thế, những người nghèo thường bị đối xử không công bằng, họ thường không có tiếng nói quyết định trong các công việc chung của cộng đồng cũng như các công việc liên quan đến chính bản thân họ. Trong cuộc sống những người nghèo chịu nhiều bất công do sự phân biệt đối xử, bị tước đi những quyền như những người bình thường khác. Người nghèo luôn cảm thấy bị sống phụ thuộc vào người khác, luôn nơm nớp lo sợ mọi thứ, trở nên tự ti, không kiểm soát được cuộc sống của mình. Khái niệm nghèo có thể dễ thống nhất về mặt định tính, song không dễ thống nhất về mặt định lượng.
Ở mỗi quốc gia khác nhau, mức sống của người dân cũng khác nhau, ngay trong cùng một quốc gia thì mức sống giữa các vùng, miền cũng có nhiều chênh lệch. Hơn nữa mặt định lượng của mức nghèo cũng biến động theo thời gian tương ứng với sự biến động về sự phát triển KT - XH của quốc gia đó. Từ đó có thể hiểu: Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được đáp ứng dầy đủ những điều kiện cơ bản cho cuộc sống như ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, vệ sinh, ít được tham gia vào các quyết định của cộng đồng, hạn chế tiếp cận với các chính sách nghèo của quốc gia, dân tộc. Cách tiếp cận này giúp chúng ta nâng cao nhận thức về các nguyên nhân gây ra nghèo đói, nhằm tìm kiếm những phương hướng, cách thức hành động đúng đắn để đẩy lùi nghèo đói, cải thiện chất lượng cuộc sống cho họ.
Chuẩn nghèo ở Việt Nam e 12 Chuẩn đói nghèo biến động theo thời gian và không gian, nên không thể đưa ra được một chuẩn mực chung để áp dụng vào công tác giảm nghèo. Cần phải xác định được tiêu chí nghèo cụ thể cho từng vùng, miền ở từng thời kỳ lịch sử. Chuẩn nghèo luôn biến động, nên phải căn cứ vào tốc độ tăng trưởng kinh tế, nguồn lực tài chính và điều kiện cụ thể mà đưa ra mức chuẩn nghèo phù hợp trong từng giai đoạn. Từ năm 1993 đến nay ở Việt Nam đã có 7 lần thay đổi chuẩn nghèo, các mức chuẩn nghèo của Việt Nam trong 3 giai đoạn đầu: giai đoạn 1993 - 1994, giai đoạn 1995 - 1997 và giai đoạn 1998 - 2000 lấy chuẩn nghèo theo thu nhập bình quân đầu người trên tháng, được tính quy đổi bằng gạo (kg/người/tháng).
Từ năm 2000 trở đi nước ta cơ bản đã xoá được tình trạng đói, từ đó mức chuẩn nghèo ở các giai đoạn 2001 - 2005 và giai đoạn 2006 - 2015 tính theo thu nhập bình quân (đồng/người/tháng), từ 2015 đến nay được áp dụng như thế.1 Chuẩn nghèo của Việt Nam được xác định qua các thời kỳ (1993 - 2020) Giai đoạn Đơn vị tính Hộ đói Hộ nghèo 1. Giai đoạn 1993 - 1994 ≤ mức ≤ mức Vùng nông thôn kg gạo/người/tháng 8 15 Vùng thành thị kg gạo/người/tháng 13 20 2. Giai đoạn 1995 - 1997 Vùng nông thôn miền núi, hải đảo kg gạo/người/tháng 13 15 Vùng nông thôn đồng bằng, trung du kg gạo/người/tháng 13 20 Vùng thành thị kg gạo/người/tháng 13 25 3. Giai đoạn 1998 - 2000 Vùng nông thôn miền núi, hải đảo đồng/người/tháng 45.000 55 Vùng nông thôn đồng bằng, trung du đồng/người/tháng 45.000 70 e 13 Vùng thành thị đồng/người/tháng 45.
Giai đoạn 2001 - 2005 Vùng nông thôn miền núi, hải đảo đồng/người/tháng 80.000 Vùng nông thôn đồng bằng, trung du đồng/người/tháng 100.000 Vùng thành thị đồng/người/tháng 150. Giai đoạn 2006 - 2010 Vùng nông thôn đồng/người/tháng 200.000 Vùng thành thị đồng/người/tháng 260. Giai đoạn 2011 - 2015 Vùng nông thôn đồng/người/tháng 400.000 Vùng thành thị đồng/người/tháng 500. Giai đoạn 2016 - 2020 Vùng nông thôn đồng/người/tháng 700.000 Vùng thành thị đồng/người/tháng 900.000 Nguồn: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 2015, có bổ sung.
Chuẩn nghèo theo tiếp cận đa chiều Chuẩn nghèo là thước đo (hay tiêu chí) nhằm xác định ai là người nghèo (hoặc không nghèo) để thực hiện các chính sách hỗ trợ giảm nghèo của nhà nước nhằm bảo đảm công bằng trong thực hiện các chính sách giảm nghèo. Nghèo là một hiện tượng đa chiều, là sự thiếu hụt khả năng đạt được một mức độ phúc lợi tối thiểu của con người. Nghèo được xem là thiếu hụt các tài sản có giá trị và cơ hội mà mỗi con người có quyền được hưởng như: quyền được sống, quyền được bảo đảm an sinh xã hội và quyền được bảo vệ. Chính vì vậy, có thể xác định nghèo đa chiều dựa vào các thiếu hụt khác ngoài thu nhập như tiếp cận với y tế, chăm sóc sức khỏe, giáo dục và môi trường hay điều kiện sống cơ bản.
Xác định nghèo đa chiều ở Việt Nam Chiều Chỉ số Mức độ thiếu hụt Cơ sở pháp lý nghèo đo lường 1) 1.1 Hộ gia đình có ít nhất Hiến pháp 2013 NQ 15/NQ- Giáo Trình 1thành viên đủ 15 tuổi sinh từ TW Một số vấn đề chính dục độ giáo năm 1986 trở lại không tốt sách xã hội giai đoạn 2012 - dục của nghiệp trung học cơ sở và 2020. người hiện không đi học Nghị quyết số41/2000/QH lớn (bổsung bởi Nghị định số 88/2001/NĐ-CP) 1.2 Tình Hộ gia đình có ít nhất 1 trẻ em Hiến pháp 2013. trạng đi trong độ tuổi đi học (5 - 14 Luật Giáo dục 2005. Luật học của tuổi) hiện không đi học.
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trẻ em. NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020.1 Tiếp Hộ gia đình có người bị ốm đau Hiến pháp 2013. tế cận các nhưng không đi khám chữa Luật khám chữa bệnh 2011. dịch cụ y bệnh (ốm đau được xác định là tế bị bệnh/ chấn thương nặng đến mức phải nằm một chỗ và phải có người chăm sóc tại giường hoặc nghỉ việc/học không tham gia được các hoạt động bình thường) 2.2 Bảo Hộ gia đình có ít nhất 1 Hiến pháp 2013.