Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Tổng quan về chính sách giảm nghèo bền vững 1. Nghèo và chuẩn nghèo 1. Quan niệm về nghèo Nghèo là một khái niệm có tính động, không bất biến mà phụ thuộc vào trình độ phát triển KH-XH của từng quốc gia, ở từng giai đoạn nhất định.
Cùng với thời gian, quá trình nhận thức về đói, nghèo của con người ngày càng đa dạng và phong phú, mở rộng và đầy đủ hơn. Hiện nay, chưa có sự thống nhất tuyệt đối quan niệm về nghèo bởi vì bản thân quan niệm này đã thay đổi rất nhanh chóng trong suốt nhiều thập kỷ qua. Hội nghị bàn về giảm nghèo đói do Ủy ban kinh tế và xã hội của Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tháng 09/1993 tại Băng Cốc - Thái Lan cho rằng Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển KT-XH và phong tục tập quán của từng địa phương. Theo Tuyên bố Liên Hợp quốc, tháng 6/2008: “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội.
Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh [20]. Theo tuyên bố này, Nghèo là tình trạng một bộ phân dân cư chỉ có điều kiện thỏa mãn một phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mưc sống thấp hơn trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện. 10 e Như vậy, dù có quan niệm chưa thống nhất nhưng có thể thấy: Nghèo là khái niệm chỉ tình trạng mà thu nhập thực tế của người dân chỉ dành hầu như cho nhu cầu ăn, thậm chí không đủ chi cho nhu cầu ăn, phần tích lũy hầu như không có.
Các nhu cầu tối thiểu ngoài ăn ra thì các mặt khác như ở, mặc, y tế, văn hóa, giáo dục, đi lại giao tiếp chỉ được đáp ứng một phần rất ít ỏi. Chuẩn nghèo Chuẩn nghèo hay còn gọi là đường nghèo, ngưỡng nghèo hoặc tiêu chí nghèo là công cụ để phân biệt người nghèo và người không nghèo. Trước khi đưa ra các tiêu chí đánh giá nghèo theo hướng đa chiều, hầu hết chuẩn nghèo dựa vào thu nhập hoặc chi tiêu. Những người được xem là nghèo khi mức sống của họ đo qua thu nhập (hoặc chi tiêu) thấp hơn mức tối thiểu chấp nhận được, tức là thấp hơn chuẩn nghèo.
Những người có mức thu nhập hoặc chi tiêu ở trên chuẩn này là người không nghèo hoặc vượt nghèo, thoát nghèo. Chuẩn nghèo là công cụ để đo lường và giám sát nghèo đói. Một thước đo nghèo đói tốt sẽ cho phép đánh giá tác động các chính sách của Chính phủ tới nghèo đói, cho phép đánh giá nghèo đói theo thời gian, tạo điều kiện so sánh với các nước khác và giám sát chi tiêu xã hội theo hướng có lợi cho người nghèo. - Chỉ số xác định đói nghèo của thế giới: Chuẩn nghèo có sự biến động theo thời gian và không gian.
Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra thước đo nghèo đói như sau: Các nước công nghiệp phát triển: 14USD/ngày/người; các nước Đông nam Á: 04USD/ngày/người; các nước thuộc Mỹ latinh và vùng Caribe: 02USD/ngày/người; các nước đang phát triển: 01USD/ngày/người; các nước nghèo, một số người được xem là đói nghèo: thu nhập dưới 14 USD/ngày/người [17, tr. Tuy vậy, các quốc gia đều đưa ra chuẩn đói nghèo riêng của mình và thường thấp hơn chuẩn đói, nghèo mà (WB) khuyến nghị. Chẳng hạn, nước 11 e Mỹ đưa ra chuẩn đói nghèo là thu nhập dưới 16.000 USD đối với một bộ phận gia đình (4 người) trong một năm, tương ứng 11,1USD/ngày/người; Trung Quốc chuẩn nghèo là 960 NDT/ngày/người, tương đương 0,33USD/ngày/người [17, tr. - Chuẩn nghèo ở Việt Nam: Tổng cục thống kê đã đưa ra mức nghèo áp dụng từ năm 1998 ở Việt Nam: Nghèo đói lương thực, thực phẩm là 107.234 đồng/người/tháng.
Nhận thức rõ những khiếm khuyến trong xây dựng chuẩn nghèo đơn chiều, ngày 15 tháng 9 năm 2015 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 1614/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tổng thể Chuyển đổi phương án tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020. Tiếp đó, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dựng cho giai đoạn 2016 - 2020 trên phạm vi toàn quốc. Chuẩn nghèo được xác định như sau: Thứ nhất, các tiêu chí về thu nhập, chuẩn nghèo: 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000đồng/người/tháng ở khu vực thành thị; Chuẩn nghèo:1.000đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 3.000đồng/người/tháng ở khu vực thành thị [30]. Thứ hai, tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản: Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh; thông tin; các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế, BHYT, trình độ giáo dục của người lớn, tình trạng đi học của trẻ em, chất lượng nhà ở, diện tích nhà ở bình quân đầu người, nguồn nước sinh hoạt, hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh, sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản tiếp cận dịch vụ thông tin [30].
- Thứ ba, chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020: 12 e + Hộ nghèo ở khu vực nông thôn là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng đủ 700.000 trở xuống; Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trên [30]. + Hộ nghèo khu vực thành thị là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng đủ 900.000 đồng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trên. + Hộ cận nghèo ở khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản [30]. + Hộ cận nghèo ở khu vực thành thị là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng đủ 900.000 đồng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
+ Hộ có mức sống trung bình ở khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.000đ đồng; + Hộ có mức sống trung bình ở khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1. Nghị định số 07/2021/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2021 quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 – 2025 như sau: - Từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 tiếp tục thực hiện chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ. - Các tiêu chí đo lường nghèo đa chiều giai đoạn 2022 – 2025 + Về tiêu chí thu nhập: Khu vực nông thôn: 1.000 đồng/người/tháng; Khu vực thành thị: 2.000 đồng/người/tháng. 13 e + Về tiêu chí mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản: Các dịch vụ xã hội cơ bản (06 dịch vụ), gồm: việc làm; y tế; giáo dục; nhà ở; nước sinh hoạt và vệ sinh; thông tin; Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản (12 chỉ số), gồm: việc làm; người phụ thuộc trong hộ gia đình; dinh dưỡng; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; phương tiện phục vụ tiếp cận thông tin.
- Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình giai đoạn 2022 – 2025: + Chuẩn hộ nghèo: Khu vực nông thôn: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1.000 đồng trở xuống và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Khu vực thành thị: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2.000 đồng trở xuống và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. + Chuẩn hộ cận nghèo: Khu vực nông thôn: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1.000 đồng trở xuống và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản. Khu vực thành thị: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2.000 đồng trở xuống và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản.
+ Chuẩn hộ có mức sống trung bình: Khu vực nông thôn: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1. 14 e Khu vực thành thị: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 2. Chuẩn hộ nghèo, chuẩn hộ cận nghèo, chuẩn hộ có mức sống trung bình theo quy định trên là căn cứ để đo lường và giám sát mức độ thiếu hụt về thu nhập và dịch vụ xã hội cơ bản của người dân; là cơ sở xác định đối tượng để thực hiện các chính sách giảm nghèo, an sinh xã hội và hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội khác giai đoạn 2022 - 2025. Giảm nghèo bền vững 1.
Khái niệm giảm nghèo Đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa nhất quán về giảm nghèo. Tuy nhiên, quan niệm phổ biến nhất hiện nay đều cho rằng, giảm nghèo là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo, vươn lên làm giàu; đó chính là nâng cao thu nhập, nâng cao mức độ tiếp cận và hưởng thụ các dịch vụ xã hội của người dân, của hộ gia đình. Nói cách khác, giảm nghèo chính là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo.