Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Khái niệm cán bộ và công chức a. Khái niệm cán bộ Thuật ngữ cán bộ được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Có nhiều cách hiểu về thuật ngữ cán bộ; có thể kể đến một số định nghĩa sau: “Cán bộ là khái niệm chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức, có tác động, ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức” [36] “Cán bộ là người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt ra chính sách đúng. Vì vậy cán bộ là cái gốc của mọi việc”[34, Tr.8] Theo Luật cán bộ, công chức năm 2008, thì “Cán bộ được hiểu là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong các cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [36] Từ các định nghĩa trên, tác giả sử dụng trong nghiên cứu này định nghĩa về cán bộ như sau: thuật ngữ “cán bộ” dùng để chỉ những người giữ chức danh bầu cử, bổ nhiệm, điều động để làm việc trong các tổ chức chính trị - xã hội, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, chịu sự điều chỉnh của Luật cán bộ, công chức. Khái niệm công chức Thuật ngữ “công chức” được hiểu phổ biến trên thế giới từ thế kỷ XIX, là những công dân được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong 9 một công sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa phương, ở trong nước hay nước ngoài, đã được xếp vào một ngạch và có hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính định nghĩa công chức là: “Người được tuyển dụng và bổ nhiệm vào làm việc trong một cơ quan của nhà nước ở Trung ương hay ở địa phương, làm việc thường xuyên, toàn bộ thời gian, được xếp vào hệ thống ngạch bậc, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, có tư cách pháp lý khi thi hành công vụ của nhà nước” [38, tr. Ở nước ta, Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp thành phố, cấp huyện, cấp xã; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”[36, Điều 4]. Khái niệm cán bộ, công chức cấp xã Theo Luật cán bộ, công chức năm 2008 thì: “Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cán bộ cấp xã), là công dân Việt Nam, được bầu giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Bí thư, Phó bí thư Đảng uỷ, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội”[36, Điều 4]. “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”[36, Điều 4].
Các chức danh cán bộ, công chức cấp xã 10 Theo Nghị định số 92/2009/NĐ-CP, ngày 22/10/2009 của Chính phủ về quy định chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã thì: - Cán bộ cấp xã gồm các chức vụ sau: + Bí thư, Phó bí thư Đảng uỷ: Là cán bộ chuyên trách công tác Đảng ở Đảng bộ, chi bộ (nơi chưa thành lập Đảng bộ) xã, phường, thị trấn; chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ; cùng tập thể lãnh đạo toàn diện hệ thống chính trị ở cơ sở trong việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trên địa bàn. + Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân: Là cán bộ chuyên trách của Hội đồng nhân dân cấp xã; chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân cấp xã, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã. + Chủ tịch, Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân: Là cán bộ chuyên trách lãnh đạo Uỷ ban nhân dân cấp xã; chịu trách nhiệm chỉ đạo, điều hành hoạt động của Uỷ ban nhân dân và hoạt động quản lý Nhà nước đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh đã được phân công trên địa bàn. + Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Bí thư Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội nông dân Việt Nam (áp dụng đối với cấp xã có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội); Chủ tịch Hội cựu chiến binh Việt Nam: Là cán bộ chuyên trách đứng đầu Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội của xã, phường, thị trấn; chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của điều lệ tổ chức đoàn thể và chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.
- Công chức cấp xã gồm các chức danh sau: + Trưởng công an; + Chỉ huy trưởng quân sự; 11 + Văn phòng – thống kê; + Địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường (đối với xã) hoặc Địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn); + Tài chính - kế toán; + Tư pháp – hộ tịch; + Văn hoá – xã hội. Nhiệm vụ chung của công chức: Làm công tác chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã; tham mưu giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã quản lý Nhà nước về lĩnh vực công tác (Địa chính, Tài chính, Tư pháp, Công an, Quân sự, Văn hoá - Xã hội, Văn phòng) và thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã giao. Tiêu chuẩn chức danh cán bộ, công chức cấp xã Tiêu chuẩn cán bộ, công chức cấp xã theo Quyết định số 04/2004/QĐ- BNV, ngày 16/01/2004 của Bộ Nội vụ quy định thì cụ thể như sau: * Tiêu chuẩn chung - Có tinh thần yêu nước sâu sắc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có năng lực tổ chức vận động nhân dân thực hiện có kết quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ở địa phương - Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Công tâm thạo việc, tận tụy với dân.
Có ý thức kỷ luật trong công tác. - Trung thực, không cơ hội; giữ mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân và có uy tín, tín nhiệm với nhân dân. - Có trình độ lý luận chính trị, nắm vững quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ học vấn, năng lực chuyên môn phù hợp, đủ sức khoẻ để làm việc có hiệu quả đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. * Tiêu chuẩn cụ thể - Trình độ chuyên môn 12 + Đối với chức danh Bí thư Đảng ủy, Phó bí thư Đảng uỷ xã: Tại khu vực đồng bằng và đô thị yêu cầu phải có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên.
Đối với khu vực miền núi, phải được học qua các lớp bồi dưỡng kiến thức chuyên môn (tương đương trình độ sơ cấp trở lên); nếu tham gia giữ chức vụ lần đầu, ít nhất phải có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên. Đã trải qua các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công tác Đảng, quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế. + Đối với chức danh Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐND xã: Đối với khu vực đồng bằng, phải có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên. Với khu vực miền núi phải qua các lớp bồi dưỡng kiến thức chuyên môn tương đương trình độ sơ cấp trở lên với các chuyên ngành phù hợp với tình hình, đặc điểm kinh tế - xã hội của địa phương.
Đã tham gia các lớp bồi dưỡng quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế, kiến thức và kỹ năng hoạt động đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã. + Đối với chức danh Chủ tịch, Phó chủ tịch UBND xã: Ở khu vực đồng bằng, ít nhất phải có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên. Đối với khu vực miền núi phải được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn (tương đương trình độ sơ cấp trở lên), nếu giữ chức vụ lần đầu phải có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên với các chuyên ngành phù hợp với tình hình, đặc điểm kinh tế - xã hội của địa phương. Đã được học qua các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý hành chính Nhà nước, quản lý kinh tế.
+ Đối với chức danh Chủ tịch Ủy ban MTTQ và trưởng các đoàn thể chính trị - xã hội cấp xã: Đã được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ tương đương trình độ sơ cấp trở lên trong lĩnh vực công tác mà cán bộ đang đảm nhiệm. + Đối với chức danh công chức xã: Có trình độ chuyên môn từ Trung cấp trở lên và phù hợp với chức danh công chức. - Trình độ lý luận: + Đối với các chức danh Bí thư Đảng ủy, Phó bí thư Đảng uỷ; Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐNĐ, UBND: Yêu cầu có trình độ Trung cấp lý luận trở lên.