Chương 1 đề cập đến bối cảnh nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, bố cục của luận văn. Chương 2 trình bày về cơ sở lý thuyết, đánh giá các khung phân tích (KPT) sinh kế bền vững trên thế giới, lược khảo các nghiên cứu đi trước và xác định KPT được lựa chọn làm cơ sở nghiên cứu. Chương 3 tập trung vào xây dựng tiến trình nghiên cứu, lập bảng câu hỏi nghiên cứu, phương pháp chọn mẫu, phương pháp thu thập số liệu và phân tích số liệu. Dựa trên số liệu thu thập từ quá trình khảo sát, Chương 4 sẽ trình bày kết quả nghiên cứu bao gồm phân tích nguồn vốn sinh kế, bối cảnh dễ bị tổn thương, những khó khăn của hộ, chiến lược sinh kế do hộ đề xuất và đánh giá về ý kiến chuyên gia.
Cuối cùng, Chương 5 sẽ trình bày kết luận chung của đề tài và thảo luận các khuyến nghị chính sách nhằm cải thiện sinh kế cho HDT Khmer nghèo tại địa bàn nghiên cứu. 3 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết về sinh kế, sinh kế bền vững, giới thiệu các khung phân tích sinh kế phổ biến trên thế giới. Đồng thời, đề xuất khung phân tích của nghiên cứu này và kết quả của các nghiên cứu đi trước. Cơ sở lý thuyết Nghèo là một định nghĩa phức tạp, theo Khandker (2000) nghèo là một hiện tượng đa chiều, là sự thiếu hụt các nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống và không thể tiếp cận đầy đủ với cơ sở hạ tầng cơ bản.
Riêng Liên Hợp Quốc (2008) đã đưa ra khái niệm nghèo đa chiều (6 chiều) trong đó tập trung vào “y tế, giáo dục và điều kiện sống” (UN, 2008, trích trong Nguyễn Ngọc Sơn, 2012, trang 19). Sinh kế là hoạt động mà con người sử dụng nguồn vốn vật chất và phi vật chất để tạo ra thu nhập nhằm thỏa mãn nhu cầu thiết yếu. Sinh kế chỉ bền vững khi con người có thể tồn tại và phát triển trước những cú sốc của tự nhiên và xã hội. Quan trọng hơn, hoạt động sinh kế của con người không được làm ảnh hưởng tiêu cực đến phúc lợi của thế hệ tương lai (Chambers và Conway, 1991).
Theo Ashley và Carney (1999, trang 4-7), con người được xem là nhân tố trung tâm để thực hiện sinh kế bền vững. Con người tác động vào các nguồn vốn sinh kế để có thể tồn tại trong môi trường có nhiều rủi ro, thách thức. Khung phân tích Trên thế giới có nhiều KPT sinh kế được sử dụng nhằm đề ra các giải pháp góp phần cải thiện sinh kế cho con người. Theo Krantz (2001, trang 21-27) khi sử dụng KPT sinh kế bền vững bên cạnh những điểm mạnh cũng cần phải khắc phục những điểm hạn chế của KPT này.
Về mặt tích cực, theo Hussein và Nelson (1998), Chambers (1995, trang 191- 192), cách tiếp cận sinh kế bền vững rất thích hợp cho việc phân tích hoạt động sinh kế của các hộ nghèo. Việc phân tích tài sản sinh kế và bối cảnh dễ bị tổn thương sẽ giúp nhà nước đưa ra các chính sách phù hợp, nhằm cải thiện sinh kế cho hộ nghèo (Serrat, 2008). Về mặt hạn chế, theo Krantz (2001, trang 21-27) để sử dụng KPT này thì phải có những tiêu chí rõ ràng để đo lường chuẩn nghèo, phải đặt hộ nghèo trong bối cảnh của địa bàn mà họ sinh sống, cần quan tâm đến các vấn đề về giới và bất bình đẳng. 4 Trên cơ sở khái niệm sinh kế bền vững của Chambers và Conway (1991), nhiều tổ chức trên thế giới đã đưa ra các KPT sinh kế nhằm phục vụ cho hoạt động của tổ chức như OXFAM (1993), CARE (1994), UNDP (1995) hay DFID (1999) (Xem phụ lục 7, 8, 9, 10).
Theo Holloway (2002) và Krantz (2001, trang 21-27), trong những KPT sinh kế bền vững đã nêu thì KPT sinh kế bền vững của DFID (1999) là KPT được sử dụng rộng rãi nhất, vì nó khắc phục nhược điểm của các KPT đi trước. Ra đời vào năm 1997 dựa trên khái niệm sinh kế bền vững của Chambers và Conway (1991), được phát triển và hoàn thiện bởi Bộ Phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID). KPT sinh kế bền vững của DFID (1999) được xây dựng nhằm đưa ra các giải pháp giảm nghèo, tập trung vào 6 yếu tố chính là “Lấy con người làm trung tâm”, “Có sự tham gia của người dân”, “Có sự phối hợp ở nhiều cấp độ”, “Có sự hợp tác giữa các khu vực trong xã hội”, “Có tính bền vững”, “Có tính năng động và linh hoạt cao”. KPT sinh kế bền vững DFID (1999) vừa kế thừa vừa khắc phục hạn chế của những KPT đi trước.
Giống như KPT sinh kế bền vững của OXFAM (1993), KPT sinh kế bền vững của DFID (1999) quan tâm đến tài sản sinh kế của hộ nghèo trong những bối cảnh bất lợi. KPT sinh kế bền vững của DFID (1999) còn quan tâm đến các vấn đề về giới và sự phát triển bền vững (Carney và đ. Dựa trên số liệu thứ cấp và sơ cấp, DFID đã tạo ra các bức ảnh chụp nhanh về đời sống của hộ nghèo. Ngoài ra, với ý kiến chuyên gia, DFID (1999) đã xây dựng được các giải pháp rõ ràng và thiết thực góp phần “tăng thu nhập, tăng phúc lợi, tăng tính ổn định, giảm tổn thương, đảm bảo an ninh lương thực và duy trì tính bền vững khi sử dụng nguồn vốn tự nhiên”.1: Khung phân tích sinh kế bền vững DFID (1999) Nguồn: Tác giả dịch và vẽ lại theo khung phân tích sinh kế bền vững của DFID (1999) 5 Qua hình 2.1 cho thấy KPT sinh kế bền vững của DFID (1999) gồm bốn vấn đề chính là bối cảnh bất lợi, tài sản sinh kế, cơ cấu & quy trình chuyển đổi và kết quả sinh kế.
Theo Kates và đ.g (1985, trang 17) bối cảnh bất lợi là việc con người gặp phải những vấn đề khó khăn trong cuộc sống và không thể chống lại những bất lợi đó. Theo Wisner và đ.g (2003, trang 3) thì bối cảnh bất lợi là tình trạng mà sinh kế của con người bị đe dọa do nhiều tác nhân trong cuộc sống gây ra. Cụ thể hơn, DIFD (1999) chia bối cảnh bất lợi thành 3 nhóm. Thứ nhất, các cú sốc là những sự kiện bất ngờ, những rủi ro không lường trước được như tại nạn, bệnh tật, khủng hoảng kinh tế, làm ảnh hưởng đến tài sản sinh kế của hộ nghèo.
Thứ hai, xu hướng bất lợi là những vấn đề gây ra tác động tiêu cực đến hộ nghèo như xu hướng di cư, sự suy giảm tài nguyên, xu hướng biến đổi khí hậu. Thứ ba, tính mùa vụ như tình trạng được mùa mất giá, khi đến mùa thu hoạch lượng cung nông sản tăng lên cao hơn lượng cầu làm giá nông sản giảm, thiếu việc làm khi hết vụ hoặc sản lượng đánh bắt cá giảm trong mùa khô đều làm ảnh hưởng đến đời sống của hộ nghèo. KPT sinh kế bền vững của DFID (1999) phân nguồn vốn sinh kế làm năm loại là vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính và vốn xã hội trong đó: Vốn con người, đề cập lần đầu tiên bởi Theodore Schultz (1961), vốn con người có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế thông qua việc gia tăng năng suất lao động, được đo lường bởi các yếu tố như giáo dục, đào tạo và y tế (Cummins và đ.Becker, 1995, trang 2; Healy và đ. Vốn con người là những kiến thức, kỹ năng, các ý tưởng sáng tạo, tình trạng sức khỏe và khả năng thích nghi trước các cú sốc, giúp con người thực hiện các chiến lược sinh kế đa dạng nhằm cải thiện cuộc sống (Slaus và Jacobs, 2011, trang 97; Carney và đ.
Vốn tự nhiên, đề cập phổ biến từ năm 1990 là một thuật ngữ dùng để kết nối giữa hoạt động của con người và hệ sinh thái tự nhiên. Theo Perkins và đ.g (1992) vốn tự nhiên là những loại tài nguyên của quốc gia, nếu nguồn vốn này bị khai thác quá mức sẽ dẫn đến tận diệt nguồn tài nguyên. Vốn tự nhiên gồm các loại tài nguyên thiên nhiên được con người khai thác, phục vụ cho hoạt động sống của con người (Slaus và Jacobs, 2011). Vốn tự nhiên có vai trò quan trọng đối với hoạt động sinh kế của hộ nghèo, đặc biệt là các HDT thiểu số có lối sống hòa nhập với thiên nhiên.
Các hộ này sẽ dễ bị ảnh hưởng bởi các cú sốc từ tự nhiên, tính mùa vụ của tự nhiên như mùa mưa, mùa khô hay giai đoạn sinh trưởng của động thực vật tự nhiên. 6 Vốn vật chất, theo Siddiqui (2009, trang 6) đây là nguồn vốn được con người tạo ra nhằm phục vụ cho hoạt động của con người, ví dụ như các loại cơ sở hạ tầng như điện, đường, trường, trạm hay phương tiện vận tải công cộng. Phương tiện sản xuất và phương tiện sinh hoạt cũng có vai trò quan trọng góp phần thực hiện chiến lược sinh kế của hộ. Vốn tài chính, bao gồm các nguồn lực được hỗ trợ chính thức như tiền vay từ ngân hàng, từ các chương trình của chính phủ thông qua hoạt động trợ cấp hoặc các nguồn tài chính phi chính thức như hụi, vay nặng lãi, sự hỗ trợ của người thân hoặc các tổ chức phi chính phủ (Phan Đình Khôi, 2012, trang 145-146; Menkhoff và Rungruxsirivorn, 2009, trang 3-4).
Trên cơ sở các nguồn lực tài chính, sẽ giúp con người có thể lựa chọn các chiến lược sinh kế phù hợp (Carney và đ. Tuy nhiên, cần cẩn trọng trong việc lựa chọn các nguồn vốn không chính thức có chi phí cao, bởi vì các nguồn vốn này thường không bền vững đối với việc thực hiện các chiến lược sinh kế. Vốn xã hội, là sự tương tác giữa hộ nghèo và các đối tượng trong xã hội như quan hệ họ hàng, làng xã hay câu lạc bộ, đội, nhóm. Ngoài ra, vốn xã hội còn xem xét đến vấn đề phong tục, tập quán, pháp luật và các cơ chế chính sách ở địa phương.
Theo Healy và đ.g (2002) vốn xã hội là việc xây dựng những mạng lưới dựa trên các chuẩn mực chung nhằm kết nối các cá nhân và các nhóm người trong xã hội để đạt được những mục tiêu tích cực cho tổ chức hay cộng đồng. Các cơ cấu và quy trình chuyển đổi, là sự tương tác giữa các khu vực khác nhau trong xã hội như khu vực công, khu vực tư, các cá nhân hay tổ chức. Các mối quan hệ này được điều tiết và chi phối mạnh mẽ bởi pháp luật, thể chế, các chính sách của nhà nước và đặc điểm văn hóa vùng miền.