Chương 1 nêu lên bối cảnh, vấn đề chính sách, câu hỏi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu; (ii) Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết, khung phân tích; (iii) Chương 3 nêu lên thực trạng của năng lực cạnh tranh của Hải Phòng trên cơ sở hai mục tiêu chủ yếu và thu hút các đối tượng tiềm năng; phân tích các yếu tố tác động tới năng lực cạnh tranh; (iv) Chương 4 tổng hợp và đánh giá năng lực cạnh tranh của thành phố; (v) Chương 5 kết luận và kiến nghị các chính sách nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Hải Phòng dựa trên các kết quả phân tích đã thực hiện. Cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh Mỗi địa phương đều hướng tới sự phát triển thịnh vượng thông qua việc thực hiện hai mục tiêu cơ bản: (i) tạo việc làm và thu nhập cho người dân, (ii) ngân sách đảm bảo cung cấp dịch vụ công. Để thực hiện các mục tiêu này, địa phương cần phải thu hút được các đối tượng tiềm năng: doanh nghiệp tới kinh doanh, người có năng lực đến làm việc và người khá giả tới cư trú (Peterson, 1981 trích theo Huỳnh Thế Du, 2016), thông qua việc nâng cao “năng lực cạnh tranh” của mình. “Năng lực cạnh tranh” thể hiện khả năng cung cấp các loại hàng hóa, dịch vụ của một địa phương khi so sánh với các sản phẩm từ các địa phương khác (Webster và Muller, 2000).
Việc sản xuất hàng hóa có giá trị cao với giá thành thấp tương ứng với quá trình nâng cao năng suất của địa phương. Vì vậy, năng suất là yếu tố quyết định quan trọng nhất của mức sống dài hạn và là nguyên nhân sâu xa của thu nhập bình quân đầu người (Porter, 2008). Để tăng trưởng năng suất bền vững, nền kinh tế phải liên tục tự nâng cấp mình. Vì vậy, để đánh giá năng lực cạnh tranh, nghiên cứu tập trung vào: (i) đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh thông qua cơ cấu ngân sách, việc làm cũng như khả năng thu hút các đối tượng tiềm năng; (ii) phân tích các yếu tố có tác động tới năng lực cạnh tranh, tìm ra các yếu tố quan trọng tác động tới năng lực cạnh tranh.
Phân tích năng lực cạnh tranh địa phương Nghiên cứu sử dụng khuôn khổ phân tích năng lực cạnh tranh của Porter (2008), được hiệu chỉnh cho cấp độ địa phương bởi Vũ Thành Tự Anh (2016). Theo khung phân tích này, năng suất và tốc độ tăng năng suất của địa phương được quyết định bởi ba nhóm yếu tố: “Các yếu tố sẵn có của địa phương” gồm: tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, hay quy mô của địa phương… bao gồm số lượng, chất lượng, khả năng khai thác của các nguồn lực. Những yếu tố này là đầu vào cần thiết cho việc cạnh tranh của địa phương và cho cả các doanh nghiệp hoạt động trong địa phương đó. “Năng lực cạnh tranh ở cấp độ địa phương” gồm các nhân tố cấu thành môi trường hoạt động của doanh nghiệp địa phương, gồm: (i) chất lượng của hạ tầng xã hội (văn hoá, giáo dục, y tế); (ii) chất lượng của hạ tầng kỹ thuật (giao thông vận tải, hệ thống cấp điện - nước, viễn thông); (iii) các thể chế, chính sách kinh tế như chính sách tài khoá, điều hành và -5- cung cấp dịch vụ công.
Các yếu tố trên không trực tiếp “tạo ra” năng suất hay năng lực cạnh tranh, nhưng có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hay cản trở nỗ lực tăng năng suất. Hình 2-1: Khung phân tích năng lực cạnh tranh địa phương NĂNG LỰC CẠNH TRANH Ở CẤP ĐỘ DOANH NGHIỆP Trình độ phát triển Hoạt động và chiến lược Môi trường kinh doanh cụm ngành của doanh nghiệp NĂNG LỰC CẠNH TRANH Ở CẤP ĐỘ ĐỊA PHƯƠNG Hạ tầng văn hóa, giáo Hạ tầng kỹ thuật (GTVT, Chính sách tài khóa, đầu dục, y tế, xã hội điện, nước, viễn thông) tư, tín dụng, cơ cấu KT CÁC YẾU TỐ SẴN CÓ CỦA ĐỊA PHƯƠNG Tài nguyên thiên nhiên Vị trí địa lý Quy mô địa phương Nguồn: Vũ Thành Tự Anh (2016) “Năng lực cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp” có tác động trực tiếp tới năng suất của doanh nghiệp, bao gồm: chất lượng môi trường kinh doanh, trình độ phát triển cụm ngành, hoạt động và chiến lược của doanh nghiệp. Trong đó, trình độ phát triển của cụm ngành được phân tích thông qua mô hình kim cương (Porter, 2008) gồm các yếu tố: (i) các điều kiện nhân tố đầu vào, (ii) các ngành hỗ trợ và liên quan, (iii) các điều kiện cầu, (iv) bối cảnh cho chiến lược và cạnh tranh. -6- Hình 2-2: Mô hình “kim cương” Nguồn: Porter (2008), trích trong Vũ Thành Tự Anh (2011) -7- CHƯƠNG 3.
NĂNG LỰC CẠNH TRANH THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 3. Thực trạng về năng lực cạnh tranh của Hải Phòng 3. Cơ cấu kinh tế Năm 2000÷2015, cơ cấu kinh tế của Hải Phòng cho thấy đóng góp rất lớn nhất của nhóm ngành dịch vụ với khoảng 50% GRDP. Tỷ phần nhóm ngành công nghiệp, xây dựng tăng đáng kể (từ mức 34,1% lên 40,9% GRDP), tương ứng là sự sụt giảm 10 điểm phần trăm về tỷ phần của nhóm ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản.
Điều này cho thấy sự chuyển dịch tích cực của cơ cấu kinh tế thành phố từ nông nghiệp sang các ngành công nghiệp, dịch vụ. Hình 3-1: Cơ cấu kinh tế theo khu vực của Hải Phòng Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản Công nghiệp và xây dựng Dịch vụ Thuế nhập khẩu Năm 2015 7,5% 40,9% 50,0% 1,6% Năm 2010 10,0% 37,2% 49,4% 3,5% Năm 2005 13,0% 36,2% 48,7% 2,1% Năm 2000 17,8% 34,1% 48,1% 0% 10% 20% 30% 40% 50% 60% 70% 80% 90% 100% Nguồn: Tổng hợp NGTK Hải Phòng các năm Hình 3-2: Cơ cấu kinh tế theo loại hình kinh tế của Hải Phòng (2005÷2014) 2014 29% 26% 26% 17% 2013 29% 26% 26% 16% 2012 28% 26% 26% 15% 2011 28% 26% 26% 15% 2010 28% 25% 26% 15% 2009 28% 26% 26% 15% Nhà nước 2008 28% 25% 26% 15% Tư nhân 24% 15%18% 16% 2007 31% Cá thể 23% 15%19% 2006 31% FDI 20% 16% 2005 34% Khác 0 20.000 Tỷ VND Nguồn: Tổng hợp NGTK Hải Phòng -8- Cơ cấu GRDP theo thành phần kinh tế trong 10 năm (2005÷2014) cho thấy đóng góp rất lớn của khu vực ngoài nhà nước với khoảng ½ GRDP. Trong đó, vai trò của khu vực tư nhân và cá thể ngày một tăng, tương ứng với khoảng ¼ GRDP cho mỗi khu vực trong năm 2014. Giai đoạn này cũng ghi nhận sự sụt giảm về tỷ phần của khu vực nhà nước và khu vực kinh tế tập thể đối với GRDP của thành phố.
Cơ cấu việc làm và thu ngân sách 3. Cơ cấu lao động và việc làm Lực lượng lao động của thành phố phân bổ khá đều giữa khu vực thành thị (42,1%) và nông thôn (57,9%). Dù cao gấp 1,4 lần so với bình quân của cả nước (tương ứng là 30,4%), nhưng tỷ phần lao động tại thành thị của Hải Phòng thấp nhất trong các thành phố trực thuộc Trung ương. Chỉ có hơn 30% số lao động tại Hải Phòng làm việc tại các doanh nghiệp và 12,8% làm việc trong các cơ sở kinh tế cá thể.
Như vậy, có tới hơn ½ số lao động của thành phố làm việc trong khu vực phi chính thức (tự làm), và do đó không được hưởng phúc lợi xã hội của nhà nước đối với người lao động. Hình 3-3:Cơ cấu lao động tại Hải Phòng phân theo một số chỉ tiêu Theo loại hình KT Ngoài nhà nước: 81,1% FDI: 6,8% Nhà nước: 12,1% Theo ngành Nông nghiệp: 29,9% Công nghiệp: 33,9% Dịch vụ: 36,1% Theo hình thức LĐ Doanh nghiệp: 30,7% Tự làm: 52,8% Cơ sở KT cá thể: 12,8% Thất nghiệp: 3,7% Theo khu vực Thành thị: 42,1% Nông thôn: 57,9% 0% 10% 20% 30% 40% 50% 60% 70% 80% 90% 100% Nguồn: Tổng hợp NGTK Hải Phòng Lực lượng lao động của Hải Phòng cũng phân bố khá đều giữa các khu vực: nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Dù nông nghiệp là ngành tập trung nhiều lao động nhất nhưng lượng lao động trong ngành tăng thấp hơn mức tăng chung của lực lượng lao động trong giai đoạn năm 2000÷2011 (Hình 3-4). Điều này phản ánh sự chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp - dịch vụ, nhưng sự chuyển dịch diễn ra khá chậm.
Khu vực dịch vụ tạo ra 36,1% số việc làm, tập trung trong khu vực dịch vụ phi chính thức (thương mại, kinh doanh nhỏ). Đối với khu vực chính thức, lao động tập trung tại các ngành: vận tải kho bãi, du lịch và trong khu vực công (y tế, giáo dục, quản lý nhà nước,…). -9- Cơ cấu lao động (%) 30% 25% 20% 15% 10% 5% 0% 40% Điện tử; 3.994 30% Thiết bị điện; 8.230 Hành chính; 11.125 20% Khai khoáng; 20.039 Tăng trưởng tương đối (%) QLNN; 35.737 Nhựa và cao su; 8.468 10% Kim loại May Xây dựng; 94.645 PT vận tải khác Tăng trưởng TB của lực lượng lao động Da giày; 59.017 Thương mại; 145.595 Khoáng phi kim 0% Du lịch; 40.184 Vận tải, kho bãi Thực phẩm; 4.024 -10% Kích cỡ hình tròn thể hiện quy mô lao động Giáo dục trong ngành, số sau tên ngành là số lượng lao 29.076 động trong ngành trong năm 2011 Tỷ phần trung bình theo ngành -20% Nguồn: Tổng hợp NGTK Hải Phòng Hình 3-4: Cơ cấu lao động, việc làm tại Hải Phòng (2000÷2011) -10- Khu vực công nghiệp tạo ra khoảng 1/3 số lượng việc làm, tập trung tại các ngành thâm dụng lao động (dệt-may, da giày), vật liệu xây dựng (khai khoáng, xi măng), cơ khí và đóng tàu. Các ngành công nghiệp chế tạo máy móc, thiết bị điện, điện tử tuy có mức tăng trưởng cao nhưng chưa tạo nhiều việc làm cho lực lượng lao động của thành phố.
Nguồn thu ngân sách Thu NSNN của Hải Phòng chủ yếu là thu hải quan từ hoạt động ngoại thương (thuế xuất-nhập khẩu, thuế GTGT và thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu…) qua hệ thống cảng biển của thành phố. Nguồn thu này đã tăng 13,6 lần kể từ năm 2000, đóng góp khoảng 70% tổng thu ngân sách thành phố trong năm 2015 và tiếp tục tăng trong năm 20162. Hình 3-5: Thu NSNN tại Hải Phòng (2000÷2015) Thu nội địa Thu hải quan Các khoản thu khác của NSNN 2015 12.000 Thu Ngân Sách (Tỷ VND) Nguồn: Tổng hợp NGTK Hải Phòng Thu nội địa cũng tăng 14 lần từ năm 2000, nhưng chỉ chiếm từ 20÷25% tổng thu NSNN tại Hải Phòng. Điều này cho thấy đóng góp từ các ngành khác của nền kinh tế Hải Phòng vào ngân sách là khá khiêm tốn so với thu hải quan.
Trong đó, thu NSNN từ hoạt động sản xuất kinh doanh (từ khu vực nhà nước, ngoài nhà nước và khu vực FDI) chiếm khoảng 60% thu nội địa trong năm 2015.