phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, bố cục của bài luận văn đƣợc chia thành 03 chƣơng: 6 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận chung về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài lĩnh vực công nghệ cao Chƣơng 2: Thực trạng thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào lĩnh vực công nghệ cao tại Thành phố Hải Phòng giai đoạn 2018-2022 Chƣơng 3: Một số giải pháp đẩy mạnh thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào lĩnh vực công nghệ cao tại Thành phố Hải Phòng 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ CAO 1. Khái niệm, đặc điểm và các hình thức đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài lĩnh vực công nghệ cao. Khái niệm công nghệ cao Theo Khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh công nghệ năm 2008 định nghĩa nội hàm thuật ngữ công nghệ cao nhƣ sau: "Công nghệ cao là kỹ thuật có trình độ cao trong hoạt động khoa học và đổi mới công nghệ; được ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ mới nhằm tạo ra sản phẩm có giá trị, năng suất vượt trội và giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường sinh thái và có ý nghĩa to lớn trong quá trình thành lập ngành sản xuất, kinh doanh mới hoặc hiện đại hoá ngành sản xuất, kinh doanh đang có.53] Công nghệ cao (CNC) là các kỹ thuật cho phép sản xuất với chất lƣợng cao và sản phẩm có giá trị cao, tức là có thể đem lại nhiều giá trị gia tăng hơn nữa trên cùng một lƣợng tiền và sức lao động. Bản thân công nghệ cao đã bao gồm "3 cao ": năng suất cao, giá trị gia tăng cao và mức độ hội nhập cao.
CNC cũng có khả năng kéo dài phạm vi và hiệu suất của các loại công nghệ khác do áp dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ (KH & CN) tiên tiến. Mức độ CNC có thể đƣợc đo lƣờng bởi thời gian kéo dài của vòng đời sản phẩm. Một thí dụ điển hình hiện nay là trong ngành sản xuất ô tô thì thời gian tồn tại của sản phẩm là dƣới hai năm. Sản phẩm CNC là sản phẩm đƣợc làm ra bằng CNC qua quy trình thiết kế hoặc sản xuất sản phẩm.
CNC thƣờng phải có các đặc điểm sau đây: (i) Chứa đựng nỗ lực quan trọng về nghiên cứu - phát triển (R&D). (ii) Có ý nghĩa chiến lƣợc đối với quốc gia. (iii)Sản phẩm đƣợc đổi mới nhanh chóng. 8 (iv) Đầu tƣ nhiều có mức độ mạo hiểm cao hơn nhƣng nếu thành công sẽ mang lại lợi ích to lớn.
(iv) Tăng cƣờng khả năng liên kết và cộng tác về R & D, phát triển và mở rộng sản phẩm trên phạm vi quốc tế. Lĩnh vực CNC tại Hải Phòng đang tập trung vào một số ngành sản xuất thiết bị điện tử dân dụng, máy vi tính và thiết bị ngoại vi máy tính, thiết bị truyền thông, linh kiện điện tử và bảng mạch (Pegatron); Sản xuất và gia công sản phẩm màn hình OLED nhựa cho các thiết bị di động nhƣ điện thoại di động, đồng hồ thông minh, máy tính bảng; sản phẩm điện tử, ti vi, máy điều hòa nhiệt độ, máy hút bụi, máy giặt, điện thoại…(LG); sản xuất loa TV, động cơ rung (điện thoại), tai nghe bluetooth (Bluecom); sơ chế, chế biến, bảo quản nông sản thực phẩm công nghệ cao. Dự án đƣợc xác định là dự án ứng dụng công nghệ cao phải đáp ứng đƣợc các tiêu chí sau đây: (i) Công nghệ đƣợc ứng dụng trong dự án thuộc Danh mục công nghệ cao đƣợc ƣu tiên đầu tƣ phát triển đƣợc ban hành kèm theo Quyết định của Thủ tƣớng Chính phủ (QĐ số 38/2020/QĐ-TTg ngày 30/12/2020); (ii) Dự án ứng dụng công nghệ cao phải thuộc một trong các trƣờng hợp sau: Sử dụng kết quả nghiên cứu về công nghệ cao để đổi mới công nghệ, đổi mới và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm góp phần hiện đại hóa hoặc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới tại Việt Nam; Sản xuất thử nghiệm sản phẩm công nghệ cao nhằm hoàn thiện công nghệ; Làm chủ, thích nghi công nghệ cao nhập từ nƣớc ngoài vào điều kiện thực tế Việt Nam, có sử dụng nguyên liệu, vật liệu, linh kiện, phụ tùng sản xuất trong nƣớc thay thế nhập khẩu; (iii) Hệ thống quản lý chất lƣợng của dự án đạt một trong số các tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001, HACCP, CMM, GMP hoặc chứng chỉ, chứng nhận có giá trị tƣơng đƣơng (tùy theo đặc thù dự án ứng dụng công nghệ cao áp dụng tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế); (iv) Áp dụng các biện pháp thân thiện môi trƣờng, tiết kiệm năng lƣợng trong sản xuất và quản lý chất lƣợng sản phẩm đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam; trƣờng hợp chƣa có tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam thì áp dụng tiêu chuẩn của tổ chức quốc tế chuyên ngành. 9 Tiêu chí lớn nhất để xác định một sản phẩm CNC là tỷ lệ R & D cao (High R & D Intensity) đối với thành phẩm.
Các đặc trƣng và tiêu chí trên đây đối với CNC đƣợcchấp thừa nhận khá phổ biến, tuy nhiên để xác định từng ngành CNC còn tuỳ thuộc rất lớn vào nhận thức của mỗi quốc gia và các nhóm quốc gia đối với vai trò chiến lƣợc của từng ngành cụ thể ở mỗi quốc gia theo từng giai đoạn xác định. Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) là sự đầu tƣ dài hạn của cá nhân hay công ty nƣớc này sang nƣớc khác thông qua việc thành lập cơ sở sản xuất hay kinh doanh. Cá nhân hay công ty nƣớc ngoài kia sẽ chiếm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này. Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF thì FDI đƣợc hiểu là "một sự đầu tƣ với mối liên hệ dài hạn, theo nghĩa là một tổ chức hay một nền kinh tế (nhà đầu tƣ trực tiếp) thu đƣợc lợi nhuận dài hạn thông qua một doanh nghiệp hoạt động trong một nền kinh tế khác.
Mục đích của nhà đầu tƣ trực tiếp là để có thêm quyền lực đối với việc quản lý doanh nghiệp đầu tƣ vào nền kinh tế khác ấy ". Các kinh tế học quốc tế giải thích: "Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là ngƣời sở hữu ở nƣớc ngoài này mua quyền kiểm soát một thực thể kinh tế của nƣớc khác. Đó là một lƣợng tiền đƣợc nhà đầu tƣ trả vào một thực thể kinh tế của nƣớc ngoài nhằm có tác động nhất định so với thực thể kinh tế ấy hoặc gia tăng đáng kể quyền kiểm soát đối với thực thể kinh tế ấy". Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài ở Việt Nam đƣa ra khái niệm: "Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là việc tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài đƣa sang Việt Nam vốn bằng tiền nƣớc ngoài hoặc bất kỳ tài sản khác đƣợc nhà nƣớc Việt Nam cho phép nhằm sản xuất kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc lập công ty cổ phần hoặc doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài theo qui định của pháp luật Việt Nam" Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đƣa ra khái niệm: "một doanh nghiệp đầu tƣ trực tiếp là một doanh nghiệp có tƣ cách pháp nhân hoặc 10 không có tƣ cách pháp nhân theo nguyên tắc nhà đầu tƣ trực tiếp sở hữu tối thiểu 10% cổ phần phổ thông không có quyền biểu quyết.
Điểm then chốt của đầu tƣ trực tiếp là định thực thi quyền kiểm soát công ty ".Tuy nhiên không phải bất kỳ các quốc gia nào cũng sẽ áp dụng con số 10% nhƣ ngƣỡng tính FDI. Trong thực tiễn có những tình huống tỉ lệ sở hữu tài sản tại doanh nghiệp của ngƣời đầu tƣ thấp hơn 10% nhƣng nhà đầu tƣ lại đƣợc quyền trực tiếp quản lý doanh nghiệp, trừ trƣờng hợp đông hoặc nhiều hơn nữa họ cũng chính là nhà đầu tƣ gián tiếp. Từ các khái niệm trên có thể giải thích một cách tổng quát định nghĩa đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài nhƣ thế này: "đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài FDI vào một quốc gia là việc nhà đầu tƣ ở một quốc gia khác đƣa vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản khác đến quốc gia đó nhằm có đƣợc quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế ở quốc gia đó, với mục đích tối ƣu hoá lợi nhuận của nhà đầu tƣ". Tài sản trong khái niệm này hoặc theo thông lệ quốc tế, có thể là tài sản vật chất (máy, trang thiết bị hoặc qui trình kỹ thuật và bằng sáng chế hoặc bất kỳ hình thức chứng chỉ và văn bằng có giá trị) hoặc tài sản vật chất (quyền sở hữu tí tài, bằng sáng chế và kinh nghiệm quản lý) hoặc tài sản tài chính (cổ phần, chứng khoán hoặc trái phiếu và giấy tờ ghi nhận công nợ).
Nhƣ vậy FDI lúc nào cũng là một loại hoạt động kinh tế có nhân tố nƣớc ngoài. Đặc điểm về đầu tư trực tiếp nước ngoài lĩnh vực công nghệ cao a. FDI công nghệ cao trở thành hình thức đầu tư mới và chủ lực trong đầu tư nước ngoài: Xét theo xu thế và tác dụng thì FDI vào lĩnh vực công nghệ cao phản ánh rõ ràng hơn nữa sự thay đổi về chất trong đời sống kinh tế toàn cầu với thời đại công nghệ. Gắn trực tiếp với hoạt động xuất khẩu trực tiếp và đóng góp cho sự phân công lao động quốc tế theo chiều rộng và tạo nên tiền đề của sự phát triển của các tập đoàn xuyên quốc và những công ty xuyên quốc tế về lĩnh vực công nghệ mới.
FDI công nghệ cao đang và sẽ tăng mạnh ở các nước đang phát triển: Có vô số nguyên nhân lý giải mức vốn FDI của ngành công nghệ cao ở những nƣớc đang phát triển với nhau tuy nhiên chúng ta thấy có hai lý do cơ bản là: Thứ nhất là môi trƣờng đầu tƣ giữa những nƣớc đang phát triển có sự tƣơng đồng cao trong công nghệ. Môi trƣờng đƣợc hiểu theo nghĩa rộng lớn bao hàm cả môi trƣờng công nghệ và môi trƣờng pháp luật. Thứ hai, xu thế toàn cầu hoá đã khuyến khích những nƣớc phát triển thâm nhập kinh tế của nhau thông qua trao đổi công nghệ mới. Ngoài ra sự cải cách và tự do hoá của hệ thống tài chính các nƣớc phát triển trong vài năm trở lại đây đã giúp thúc đẩy và chuyển dịch mạnh mẽ dòng FDI sang ngành công nghệ cao.